tóm tắt sử thi mahabharata
Đề 1 : "Nắng trong mắt những ngày thơ bé Cũng xanh mơn như thể lá trầu Bà bổ cau thành tám chiếc thuyền cau Chở sớm chiều tóm tém Hoàng hôn đọng trên
II - BẢNG TÓM LƯỢC CÁC MỐC LỊCH SỬ. Bắt đầu thời đại Sử thi: Mahabharata được kết tập. Vua Tuyên vương; Vua U-vương và Bao Tự, Tây Chu: Sáng tác: 'Đại Đường Tây Vực Ký', còn gọi tắt là 'Tây Vực Ký', nổi danh kim cổ, do Huyền Trang ghi lại về cuộc hành trình
LẬP-NGÔN CỦA ZARATHUSTRA. Fần Một. (Tiếp theo kì trước) Hôm nay, sau những công-việc ở Đại-học và những ngiên-cứu để sửa-soạn thuyết-trình trong các Đại-hội Quốc-tế 2013 tôi mới tạm thư-thả để trở về những đề-tài đang fát-triển và đã đăng từng fần trên Văn
Hai bộ sử thi Mahabharata được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá rất cao. Nhà phê bình văn học và sử học Pháp Mísơlê (thế kỷ XIX) đã viết: "Những bộ sử thi Ramayana và Mahabharata chẳng khác gì những kim tự tháp khổng lồ, sừng sững.
a. Khái niệm đặc trưng: Sử thi là bức tranh sinh động phản ánh đời sống tư tưởng của nhân dân Ấn Độ qua những cuộc xung đột vũ trang giữa các vương quốc, giữa những chủng tộc sống trên đất Ấn Độ. Sử thi còn là những bài ca vĩ đại ca ngợi những chiến công hiển hách, khí phách hào hùng lí tưởng mà nhân dân Ấn Độ cổ xưa ngưỡng mộ và tôn thờ. b.
Single Frau Sucht Mann Sie Meint Es Ernst. Văn bản ngữ văn 10 lý thuyết trắc nghiệm hỏi đáp bài tập sgk Câu hỏi tóm tắt sử thi ma-ha-bha-ra-ta Hướng dẫn soạn bài " Ra -ma buộc tội" - Trích "Ra - ma - ya - na" - sử thi Ấn Độ - Văn lớp 10 Xem chi tiết Giúp mk tóm tắt chương 5tác phẩm tắt đèn nha Xem chi tiết Tóm tắt Đất rừng phương Nam chương 1 Xem chi tiết Tóm tắt tiểu thuyết" Tam quốc diễn nghĩa" ngắn gọn Xem chi tiết tóm tắt tác phẩm câu chuyện ở đền hạng vương mình cần gấp lắm ạ Xem chi tiết Hướng dẫn soạn bài " Tóm tắt văn bản thuyết minh" - văn lớp 10 Xem chi tiết Hãy tóm tắt VB Chiến thắng Mtao-Mxây Trích Đăm Săn Xem chi tiết Tóm tắt các giá trị cơ bản của văn học dân gian. Ngắn gọn nhất có thể Xem chi tiết Tóm tắt tinh thần yêu nước của nhân dân ta Xem chi tiết
Ngày đăng 24/01/2016, 1227 MỤC LỤC DẪN NHẬP .2 NỘI DUNG thiệu sơ lược sử thi Mahabharata gốc .2 nét tác phẩm dung nghệ thuật sử thi Mahabharata dung thuật .12 trị ảnh hưởng sử thi Mahabharata 18 trị văn hóa .18 trị lịch sử 18 hưởng sử thi Mahabharata 19 KẾT LUẬN 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO 20 DẪN NHẬP Hẳn biết đến văn minh Ấn Độ với dãy Himalaya hùng vĩ, linh thiêng, với hai sông lớn Ấn Hằng – chứng nhân thành tựu văn minh Ấn Độ rực rỡ Con người Ấn Độ đầy lòng khoan dung giàu trí tưởng tượng Họ để lại cho kho tàng văn học Ấn Độ nói riêng giới nói chung sử thi đồ sộ Trong tiêu biểu hai sử thi Ramayana Mahabharata Nếu Ramayana nói tình yêu Mahabharata lại kể chiến vương quyền gay gắt Có thể nói Mahabharata đại dương mênh mông, bao quát nhiều mặt sống, chứa đựng nhiều vấn đề triết học, sử học, xã hội học, dân tộc học… Và đọc Mahabharata người đọc không tiếp xúc với văn học đồ sộ Ấn Độ mà tiếp nhận văn minh, văn hoá vĩ đại NỘI DUNG I Giới thiệu sơ lược sử thi Mahabharata Nguồn gốc Mahabharata hai Sử thi tiếng Phạn Sanskrit Ấn Độ cổ, thứ hai Ramayana Cái tên Mahabharata dịch thành Bharath vĩ đại, mang nghĩa Ấn Độ Vĩ Đại hay hiểu "Câu chuyện vĩ đại triều vua Bharath" Với độ dài đáng kinh ngạc, nghiên cứu ngữ văn sử thi có lịch sử dài làm sáng tỏ đầu mối phát triển lớp ngữ nghĩa Tuy nhiều tranh cãi, sử thi ước đoán đời chừng kỷ - Nhưng đa phần nhà nghiên cứu cho Mahabharata đời khoảng kỷ TCN sửa chữa dần, hoàn thiện khoảng kỷ CN Krishna Dwaipayana Vyasa Theo truyền thuyết, Mahabharata coi tác phẩm Krishna Dwaipayana Vyasa ông tổ nhân vật sử thi Vyasa có nghĩa sưu tập Vyasa thức dậy lúc bình minh suốt ba năm ròng để hoàn thành tác phẩm tuyệt diệu Cũng theo truyền thuyết khác, sử thi Mahabharata đời đạo sĩ Vyasa theo lệnh thần Sáng tạo Brahma suốt ba năm ròng đọc cho thần chữ viết dùng ngà chép lại tác phẩm vĩ đại hình thành tâm trí ông Với độ dài đáng kinh ngạc, nghiên cứu ngữ văn sử thi làm sáng tỏ đầu mối phát triển lớp ngữ nghĩa Tuy nhiều tranh cãi, kết luận câu chuyện lưu truyền từ kỉ thứ V trước Công nguyên, sau bổ sung liên tiếp, nhiều người ghi chép, chỉnh biên cho đến kỉ thứ V sau Công nguyên vào triều đại Gupta 320-530 Nguyên lúc đầu có lên đến hàng ngàn vạn câu thơ đến sưu tầm slooka câu thơ đôi gồm 22 vạn dòng, dài lần hai tác phẩm Ôđixê Iliat Hi Lạp cộng lại Bản viết tiếng Sanskrit in Cancuta vào năm 1834 Bản dịch tiếng Anh Protapchandra Roy, in năm 1883 Bản dịch tiếng Việt dựa vào tóm tắt cốt truyện Anh văn Vài nét tác phẩm Mahabharata hai Sử thi tiếng Phạn Sanskrit Ấn Độ cổ, thứ hai Ramayana Mahabharata bao gồm câu thơ đoạn văn xuôi dài, tổng cộng khoảng 1,8 triệu từ, thiên sử thi dài giới, gấp bảy lần tổng số câu thơ hai sử thi Hy Lạp cổ đại Iliad Odyssey cộng lại Tác phẩm coi "Đại Bách khoa toàn thư" văn hóa truyền thống, truyền thuyết thể chế trị - xã hội Ấn Độ cổ xưa Nó gương phản chiếu toàn đời sống người Ấn Độ truyền thống lời câu ngạn ngữ cổ "Cái không thấy Mahabharata thấy Ấn Độ." Cuốn sử thi chiếm vị trí quan trọng triết học tôn giáo Ấn Độ, chứa Bhagavad Gita, kinh văn quan trọng hàng đầu Ấn Độ giáo đạo Hindu dài chừng 700 câu thơ Sử thi gồm 18 phần, gọi 18 parva Adi, Sabha, Vana, Vitara, Udyoga, Brishma, Drona, Karna, Shalya, Sauptika, Mausala, Stri, Shanti,Anushasana, Ashvamedhika, Ashramavasika , Mahaprasthanika, Svargarohana Nội dung sử thi Mahabharata nói chiến tranh khốc liệt hai dòng họ Kôrava Pandava, hai dòng dõi vua Bharata vào khoảng kỷ 11 trước công nguyên đến kỷ 10 trước công nguyên Bên cạnh nội dung chính, chiếm chừng phần tư độ dài tác phẩm, sử thi có nhiều tích thần linh, truyện ngụ ngôn muôn thú, phiêu lưu câu chuyện tình thú vị, hấp dẫn li kì như chuyện nàng Savitri cãi lại Diêm vương để lấy anh chàng đốn củi Nhưng tác phẩm Mahabharata, giáo sĩ Ấn Độ giáo đưa vào giáo lý triết học tự biện siêu hình pháp dharma, nghiệp karma, vê giải thoátmoksha,những ẩn dụ triết học, châm ngôn xử thế… • Tóm tắt tác phẩm Ở thành phố Haxtinapua, có hai anh em Đritaratra Pandu cháu thuộc dòng dõi vua Bharata Vì người anh bị mù nên Pandu làm vua Đritaratra có 100 trai, gọi chung anh em Kôrava, Pandu có năm trai, gọi chung anh em Pandava Sau Pandu qua đời, Đritaratra lên nối ngôi, đem năm đứa anh nuôi chung với đàn Năm anh em Pandava trưởng thành nhanh chóng tiếng người tài cao, đức trọng Điều làm cho anh em Kôrava ghen tị Bọn họ nhiều lần lập mưu hãm hại người năm anh em thất bại Đritaratra biết rõ điều đó, đem năm anh em Pandava đến lâu đài Varanamvada Anh em Kôrava lại lập mưu đốt cháy lâu đài hòng giết họ, nhờ biết tin trước anh em Pandava dẫn mẹ Kunti trốn vào rừng sâu Họ cải trang thành đạo sĩ Bàlamôn sống ẩn dật Một năm sau, vua Đrôpada xứ Panchala mở hội kén phò mã cho công chúa Đrôpadi xinh đẹp Anh em Pandava nghe tin kéo đến đua tài Các hoàng tử bốn phương trời thất bại, không giương cung bắn mũi tên xuyên qua bánh xe quay, lấy mắt cá vàng làm đích, có Arjuna, em trai thứ ba anh em Pandava giương cung bắn năm phát trúng năm Công chúa Đrôpadi sung sướng quàng vào cổ chàng vòng hoa chiến vua làm lễ cưới cho hai người Năm anh em Pandava đem nàng Đrôpadi nhà mắt bà Kunti Vừa đến nhà, người nhanh nhảu cất tiếng “Thưa mẹ, hôm chúng mang vật quý” Bà Kunti chưa kịp nhìn nói rằng “Thế chia cho nhau” Dứt lời bà thấy Đrôpadi đứng trước mặt Không kịp hối tiếc, lời bà trở thành mệnh lệnh Thế năm anh em Pandava phải chung sống với nàng Đrôpadi Trong buổi lễ, người ta đọc kinh riêng chứng nhận năm anh em phận ông thần Vì vậy, Đrôpadi lấy chung năm anh em hợp lệ Sau việc này, Đritaratra anh em Kôrava biết năm anh em Pandava sống trở thành đồng minh nước láng giềng hùng mạnh Theo lời khuyên trưởng lão Bhisma, Đritaratra cho mời anh em Pandava trở vương quốc chia cho họ nửa đất đai Yudihititra anh tôn làm vua vương quốc Indraprasa cạnh vương quốc Haxtinapura dòng họ Kôrava Mặc dầu lãnh thổ anh em Pandava vùng đất xấu nhờ tài đức độ mà vương quốc anh em Pandava trở nên thịnh vượng Một lần làm cho anh em Kôrava ghen tị lại tìm cách tiêu diệt Yudihititra vốn say mê cờ bạc bị Đuryodana lôi kéo vào cảnh sát phạt bàn xúc xắc Đuryodana nhờ tay chơi cờ có tà thuật đánh cho Yudihititra thua bại, phải đem vương quốc nhường lại cho Đuryodana giao ước Anh em Pandava lần đem mẹ già vợ vào ẩn dật rừng sâu mười ba năm trời Hết hạn họ trở lại vương quốc mình, lần Đuryodana lật lọng không chịu trao trả lãnh thổ lại cho anh em Pandava Thậm chí Yudihititra đòi lại làng nhỏ để chung sống làm ăn cảnh hòa bình Đuryodana cự tuyệt Điều làm cho anh em Pandava tức giận buộc họ pjair gây chiến với anh em Kôrava Cuộc chiến tranh anh em dòng họ Bharata nổ ra, lôi vương quốc lân cận tham chiến, hàng triệu người xông trận mạc với hàng vạn ngựa xe cung kiếm Chiến trường Curusetơra mù mịt khói lửa vòng mười tám ngày, hàng triệu xác chết chất thành núi, máu đổ thành sông Kết thúc trận chiến mười người sống em Pandava chiến thắng vẻ vang vô đau xót phải chém giết anh em huyết thống với Sau làm lễ giết ngựa tế thần Ashvamedha để tỏ lòng sám hối, Yudihititra lên trị ba mươi sáu năm ròng Một trang diễn tả Trận chiến Kurukshetra Mahabharata Câu chuyện kết thúc hành hương năm anh em Pandava nàng Đrôpadi lên đỉnh Mêru núi Hymalaya hùng vĩ, nơi Cõi Trời Dọc đường nàng Đrôpadi bốn anh em bỏ xác trần gian, riêng Yudihititra chó mà chàng gặp dọc đường nhận làm bạn đồng hành lên đỉnh núi Bấy thần Indra tiếp đón không chịu cho chó vào Cõi Trời Yudihititra định xin Cõi Trời với chó trung thành Lúc chó biến thành thần Đácma cho biết hành động thử thách đạo đức Yudihititra Thế Yudihititra vào Cõi Trời Đầu tiên Yudihititra toàn gặp kẻ thù cũ, sau đưa tới hỏa ngục gặp em bạn bè chàng Yudihititra xin với thần “Tôi xin lại chốn người thân đâu nơi thiên đường tôi” Nhưng đến thử thách cuối cùng, trước sau Yudihititra thể lòng trung thành mình, anh em Pandava vào chốn vĩnh bất diệt dung nghệ thuật sử thi Mahabharata Nội dung Chiến tranh tôn giáo - Chiến tranh Nền tảng lịch sử Mahabharata thời đại đầy xung đột • Xung đột chế độ thị tộc dựa sở huyết thống với chế độ chiếm hữu nô lệ manh nha sở tư hữu thể chế nhà nước • Xung đột hai đẳng cấp BRAHMANA tăng lữ KSHATRIYA Võ sĩ quí tộc chiến đấu giành quyền lực tối thượng thần quyền vương quyền • Xung đột nội đẳng cấp KSHATRIYA chiến tranh giành đất đai, mở rộng bờ cõi vương quốc, tiểu vương quốc, lạc cổ đại Các xung đột thâm nhập, chuyển hoá lẫn thể thành chiến tranh có qui mô to lớn, sức huỷ diệt khủng khiếp thời kì cổ đại Mahabharata kí ức lịch sử chiến tranh Tác phẩm kể chiến tranh cốt nhục hai chi thuộc dòng họ Bharata Pandava công Kaurava để giành lại vương quốc họ bị chiếm đoạt cách bất công Hiện thực xã hội lịch sử Ấn Độ đưa vào Mahabharata vô hỗn độn, mênh mông đại dương với tất phong tục, lễ nghi tất tầng lớp xã hội, tất núi sông đồng thành thị có mặt Ấn Độ đất nước to lớn phức tạp châu lục quốc gia, đề tài sử thi Ấn Độ phức hợp Nhưng dung có lẽ lên vấn đề tranh Mahabharata trước hết tập hợp rộng lớn hỗn tạp truyền thống cổ xưa Cốt truyện trung tâm cốt truyện chiến trang, chiến trang theo truyền thuyết diễn vào kỉ 14 TCN nhằm mục đích tranh giành quyền bá chủ vùng Bắc Ấn Tác phẩm bao quát toàn kiện, biến cố xảy đời nhân vật Mặc dù chiếm ¼ dung lượng tác phẩm Song câu chuyện chiến tranh chiếm vị trí quan trọng Câu chuyện chiến tranh đẫm máu huynh đệ tương tàn hai anh em Pandava Korava thuộc dòng họ Cuối hủy diệt dòng họ Korava để lại dấu ấn sâu đậm lịch sử, tâm thức người Mahabharata không xung đột DHARMA –ADHARMA thành giao tranh hai phe Pandava –Korava chiến trường mà chủ quan hoá xung đột đấu tranh khắc phục cao thượng thấp hèn, ánh sáng bóng tối tâm hồn nhân vật Trong Mahabharata có câu “Không người đức hạnh lại đủ kiên cường để suốt đời giữ vững phẩm hạnh, không kẻ tội lỗi lại xấu xa để sống trọn vẹn đời vũng bùn tội lỗi Đời cuộn rối tung gian này, không làm việc thiện lẫn điều ác Mỗi người người phải gánh chịu lấy hậu hành động mình” Với lối tư biện chứng vậy, sử thi không phân tuyến nhân vật cách giản đơn theo cực thiện –ác Mahabharata không tập trung vào 18 ngày chiến trận mà bao trùm gần toàn đời anh hùng từ sinh tận kết thúc, họ từ bỏ trần gian sang giới bên Trong lí tưởng anh hùng lí tưởng Iliad lí tưởng anh hùng phương diện hệ thống lí tưởng đạo đức - xã hội Mahabharata mà Chú ý soi rọi hành động bên trong, xung đột bên DRAMA ADHARMA nhân vật sử thi Mahabharata cho thấy anh hùng quan niệm Ân Độ không tách rời tiêu chuẩn đạo đức, bao hàm cao thượng, vị tha, yêu chuộng hòa bình Sức mạnh người anh hùng khả hành động mà nhiều kiên nhẫn, sức chịu đựng, quyêt định lùi bước trước hành động không xứng đáng Những anh hùng nửa trần tục - nửa thần linh sử thi Mahabharata Qua 18 ngày chiến trận, thấy biểu dương tầng tầng, lớp lớp dũng sĩ anh hùng chia xẻ khát vọng sống hào hùng sống đẹp sống với võ công oanh liệt, chết đáng mơ ước chết chiến trường chiến binh dũng cảm Chết, chiến sĩ, hết, mà hoàn thành bổn phận DHARMA đồng thời có nghĩa Bổn phận cá nhân Theo quan niệm Hindu giáo, mỗingười, tùy theo đẳng cấp mà có chức xã hội riêng phải phục vụ trì xã hội tổng thể cách thực đầy đủ tinh thần bổn phận nhiệm vụ DHARMA đẳng cấp KSHATRIYA chiến đấu.Khi nói thời đại đầy xung đột Mahabharata phải nhấn mạnh xung đột nữa xung đột DHARMA MOKSHA, bổn phận giải thoát, nhập xuất Với người Ấnn, người vừa sinh vật xã hội vừa sinh vật có đời sống tâm linh Là sinh vật xã hội, phải hoàn thành DHARMA tức bổn phận trì, bảo vệ trật tự giới trần gian, giới vật chất nói chung xã hội người nói riêng Là sinh vật có đời sống tâm linh, tìm kiếm MOKSHA tức khát khao giải thoát khỏi giới vật chất, giải thoát khỏi vòng sinh từ luân hồi Cách kết thúc chiến tranh Mahabharata lại kết thúc xa lạ với sử thi anh hùng khác giới Theo người Ân Độ đạt đến chiến thắng chiến trường hoàn toàn chưa phải đến đích, chí, xa đích Nên họ phải tiếp tục lên đường Sử thi Mahabharata dừng sau chiến thắng Pandava Iliad chấm dứt sau kể chiến công Achille Tác phẩm tiếp tục theo dõi anh hùng mình ba mươi sáu năm cai trị đất nước không nguôi ân hận, cuối họ từ bỏ vương quốc mà chiến tranh trước họ lấy làm mục đích, hành hương lên cao, cao đỉnh núi Hymalaya Từ bỏ hoàn toàn sống gia đình, từ bỏ xã hội, từ bỏ dục vọng, ly viễn tinh thần khiết, sáng khỏi chất vật chất giới Từ người trẻ nhóm, Pandava ngã xuống đường hành hương Cuối Yudhisthira tới cõi trời Chàng phẫn nộ thiên đường chàng gặp toàn kẻ thù cũ, địa ngục lại anh em, bè bạn chàng chịu trăm chiều cực Nhưng ảo ảnh, thử thách cuối Yuahisthira phải qua ba tầng giới để tỉnh ngộ thiên giới chỗ cho lòng hận thù Anh ta phải vượt đối cực yêu –ghét, thành –bại, hạnh phúc –đau khổ, có nghĩa phải tới giác ngộ chất biến đổi, đoản mệnh giới định mệnh người vượt qua Nghĩa phải tới tuyệt đích MOKSHA tức từ bỏ, tức giải thoát - Tôn giáo Tôn giáo sử thi Mahabharata Hindu giáo • Con người nghiệp Tôn giáo coi sống người Karma nghiệp , có chết vĩnh cửu, linh hồn thể xác, kiếp sau vô tận kiếp phù du Yudihititra sống làm vua mà chẳng cảm thấy vui sướng, hình hài lên cõi cực lạc tìm thấy yên vui thực Bhisma “Thân thể Bhisma không đụng tới đất mũi tên cắm khắp ông Thân thể ông sáng hết nằm vậy, giường danh dự Quân đội hai bên giao chiến nữa, tất chiến binh chạy tới đứng quanh bậc anh hùng vĩ đại nằm giường mũi tên Các bậc vua chúa cõi trần đứng cúi đầu quanh ông chẳng khác thần chầu, quanh đấng Balamon”, ông “lấy máu khiến cho bãi chiến trường thành nơi vinh hiển” Ngay Duryodhan, người mà sinh linh y bỏ mạng y chết “các chư tầng tung hoa xuống người dũng sĩ hấp hối, người nhà trời tấu nhạc bầu trời rực sáng”, “bấy ta chết, chết mà dũng sĩ cho đỉnh sống người Kshatriya Ta trời, người nói với Krisna bạn bè sống cõi đời chịu đựng đau khổ, sầu não… thử hỏi có hạnh phúc ai?” • Số phận người Sử thi Ấn Độ kế thừa kho tàng thận thoại phong phú Rig Veda thần thoại giai đoạn sau, biên soạn lại nhà thần học Thần thoại trở thành yếu tố cầu thành hệ tư tưởng tôn giáo nên yếu tố tục hồn nhiên chất người phàm tục cao thượng, anh hùng hèn nhát vốn gần gũi với sống thần thoại bị thân lọc đi, bị đưa biên chế tôn giáo Tôn giáo giữ lại sỡ hãi, sung bái kiếp nhược cam chịu người trước thần thánh Tôn giáo can thiệp thô bạo đến số phận người Tất thần linh định đoạt “định mệnh mạnh cố gắng người” Các thần có mặt hoạt động người nhiều hay trận đánh, tình hay suốt chiến tranh anh hùng Padava có thần giúp đỡ Krishna, thân thứ thần Visnu thần bảo vệ theo sát Arjuna người đánh xe cho Arjuna chiến trận Kurukshetra Chính người Ấn Độ hóa thân vị thần hay vị thần Như giới thần linh sử thi Ấn Độ chi phối sâu sắc đến đời sống người • Chịu đựng trắc ẩn Sự chịu đựng trắc ẩn, chân lý, hi sinh, danh tiếng tôn giáo, toàn vũ trụ dựa chịu đựng Yudihititra chấp nhận lưu đầy, Arjuna chiến thắng cầm tay thiết tha kêu gọi giảng hòa Yudihititra đau buồn ăn năn hội hận việc giết chết người anh bà đến mức định rời bỏ đời trần tục, vào rừng sám hối tội lỗi Tôn giáo Ấn Độ hướng vào vô vị nhẫn nhục Các thuyết luân hồi vô thường vô ngã nhân nhân duyên đạo phật cho đời vô ngã,cũng nhân nhân duyên đạo phật cho đời vô ngã, vô sơ, nhân sinh vô thường Mọi kể kiếp người trôi qua nháy mắt, công danh phú quý nhanh chóng tiêu tan có nghiệp Karna vĩnh viễn tồn tại, 10 nghiệp bền trình tu thân tích đức, tránh ác phục thiện người Con người nhẫn nhục mẫu người lý tưởng mà sử thi Ấn Độ hướng đến Như vậy, người Ấn Độ đức nhẫn gốc rễ nguồn để có sống tốt đẹp Đạo lý Dharma bổn phận • Khát vọng hòa bình, giải thoát lý tưởng công bác ái Chiến thắng anh hùng Panđava xem chiến thắng đạo đức công lý Dharma đề Chiến trường Kurukshetra vừa thánh địa biểu dương sức mạnh hùng cường chiến binh lẫm liệt, vừa kiện vĩ đại bi tráng hào hùng nơi đạo đức bị tha hóa ánh sáng bóng tối đấu tranh liệt Yudlhisthira khóc than đến xé lòng tác động sâu sắc vào tâm linh người đọc Trong hành hương lên cõi trỡi người anh hùng dần nguôi quên đau oán hận, trút bỏ ràng buộc trần thế, đạt đến đọ siêu thoát tịnh Nhưng cõi tục lụy lùi xa, người anh hùng tưởng rũ bụi trần mà chưa mở cánh cửa trời Thần Dharma thử thách trai Và nơ chốn thannh cao yên tĩnh Yudhisthira đạo cao đức trọng • Hành động vô cầu Hành động vô cầu hành động mục đích lý tưởng nằm Dharma Đó hành động vị kỉ, không lợi ích cá nhân kết vật chất tầm thường Hành động quên nỗi hiểm nguy thân để tiêu diệt ác cứu đời Bhisma mang lại cho nhân vật vẻ dẹp cao Hành động Bhisma mang tính nghĩa hiệp thực thi bổn phận đẳng cấp chiến binh Kshatriya Nhân vật hành động theo số phận nuôi sống với bổn phận bị ràng buộc lời nguyền, hành động người Ấn Độ không tự Bhisma “ Ông người tự hoạt động, ông bị ràng buộc lời thề với đức vua phải chiến đấu bên cạnh anh em Kaurava Bhisma phản bội Duryodhana để với anh em ruột thịt nguyện sống có lý tưởng bên người trưởng chi Kaurava • Cái chết Cái chết hành động bổn phận theo quan điểm Hindu giáo cho người tùy theo đẳng cấp mà có chủ nghĩa xã hội riêng phải phục vụ trì xã hội tổng cách thực đầy đủ tinh thần bổn phận, nhiệm vụ Chúng ta hiểu mà thương tổn, hi sinh miêu tả đẹp đẽ, mơ 11 mộng, chí sáng ngời cảm hứng hiếu chiến hoàn toàn cảm hứng chủ đạo sử thi Từ kinh “Rig Veda” sử thi Mahabharata, người Ấn Độ cho sau chết người ta lên trời Ở “Muốn náy, mặt trời sáng chói, hoa dồi dào, rượu, sữa, mật, tiếng đàn sáo ca hát không ngừng” Thần thoại Ấn Độ Như vậy, chết người với cõi cực lạc, xứ sở thần tiên, nơi chỗ cho lòng hận thù Như vậy, khẳng định sử thi chiến giành giật đất đai mở rộng cõi mà đề cao lý tưởng đạo đức thời đại; chiến thắng đạo đức công lý, hoàn thiện bổn phận danh dự mà Đacma đề Sử thi mang ý nghĩa túy, mang giá trị nhân sinh lý tưởng sinh sống người Và hi vọng xây dựng xã hội bình yên, xóa thù hận, lòng tham, ích kỷ người Nghệ thuật Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật Mỗi nhân vật tác phẩm Mahabharata mang tính cách, đời sống tinh thần riêng nhân vật mang tính chất ước lệ, có khuôn mẫu sẵn thấy số truyện dân gian đức độ, sáng suốt; Acgiuna dũng cảm kiêu hùng; Bhima xông xáo, sôi giữ trọn lời thề chết; Kacna hùng dũng kiêu căng; Krishna tài trí siêu việt; Đơrita mù oai nghiêm cốt cách ông vua vừa gian hùng vừa xảo quyệt;… Mỗi nhân vật để lại ấn tượng khó quên tâm hồn người đọc Rômet Đơt – Nhà nghiên cứu văn học Ấn Độ nhận xét rằng “Trừ tác phẩm Iliat tác phẩm mà nghệ thuật miêu tả nhân vật phong phú chân thực Mahabharata Nhân vật không đau khổ dằn vặt nhân vật Đantê, không say mê cực độ nhân vật Sêcxphia, trái lại nhân vật phản ánh tính cách uy nghiêm, trầm lặng sức mạnh tinh thần chẳng khác hình tượng bất hủ cẩm thạch từ thời xa xưa để lại mà nghệ sĩ điêu khắc ngày không tài mô lại.” Mahabharata không xung đột Dharma – Adharama thành giao tranh hai phe Pandava – Kôrava chiến trường mà chủ quan hóa xung đột đấu tranh khắc phục cao thượng thấp hèn, ánh sáng bóng tối tâm hồn nhân vật Sử thi khôngphân tuyến nhân vật cách đơn giản theo cực thiện – cực ác 12 Sử thi Mahabharata cho thấy anh hùng quan niệm Ấn Độ không tách rời tiêu chuẩn đạo đức, bao hàm cao thượng, vị tha, yêu chuộng hòa bình Sức mạnh người anh hùng khả hành động mà nhiều kiên nhẫn, sức chịu đựng, định lùi bước trước hành động không xứng đáng Sử thi xây dựng hệ thống nhân vật mà anh hùng mẫu mực luôn chiến thắng chiến tâm hồn Dharma Adharma thân Ở tượng hàng loạt anh hùng suy thoái, tha hoá qua tiến trình chiến tranh Khiến cho chiến lúc đầu tuân theo luật lệ cao cuối luật lệ bị vi phạm Yudihititra, người anh năm anh em Pandava, người anh hùng tiếng đạo cao đức trọng đến ngày thứ 14 chiến tranh bị dục vọng lôi để sa xuống đường người trần tục Trong sử thi, nhân vật xây dựng theo kiểu nửa trần tục – nửa thần linh, nói đến anh hùng xây dựng theo kiểu nửa trần tục – nửa thần linh, không họ người cha thần thánh bà mẹ trần tục Mà chủ yếu Mahabharata thể họ vừa cao thượng vừa thấp hèn, luôn đấu tranh thân Dharma Adharma – Đạo lý phi lý, vừa chịu lực hút mãnh liệt trái đất trần tục vừa hướng tới thiên giới tâm linh vời vợi cao Dù rằng, việc anh hùng đắm chìm suy tư, chiêm nghiệm thể nhiệt tình hành động bộc lộ tính “yếu đuối” không dễ dàng biện hộ họ Mahabharata cống hiến cho gia tài chung anh hùng ca cổ điển giới kiểu mẫu “anh hùng suy tư” “anh hùng – đạo sĩ” Ấn Độ, phương Đông Nghệ thuật xây dựng tình truyện Đọc Mahabharata, người đọc bị lôi vào quang cảnh chiến tranh tràn ngập hào khí, sôi động Người đọc say mê đến mức hồi hộp theo dõi trận giao tranh ác liệt xảy 18 ngày liền Cảm xúc tăng lên chiến tranh tiến dần đến ngày kết thúc, tướng lĩnh dũng mãnh ngã gục chiến trường Một nhà Ấn Độ học phương Tây cho rằng “Trong văn học giới, có lẽ khó tìm thấy đoạn văn miêu tả cảnh chiến tranh đặc sắc vậy.”Cuộc đua tài đọ sức sôi dũng sĩ khắp bốn phương đến cầu hôn Đrôpadi, đụng độ nảy lửa hai dũng sĩ Acgiuna Kacna ví giao chiến Achin va Herto thần thoại sử thi Hi-lạp, tình cảm thái độ phản kháng mãnh liệt nàng 13 Đrôpadi nàng bị anh em Kôrava định chiếm đoạt sau ván cờ bất hạnh Yuhi khiến cho thần linh phải xúc động tay can thiệp Đó đoạn văn có sức truyền cảm mạnh người đọc Ấn Độ nước tôn vinh tình yêu niềm hoan lạc vô biên Trong tác phẩm, tình yêu thể mối quan hệ nàng Draupadi với anh em nhà Panda gắn bó khác Nghệ thuật miêu tả chết Cái chết sử thi Mahabharata miêu tả rõ nét, mang lại hai chiều hướng cảm xúc khác - Cảm quan ngợi ca, tôn kính Gắn với chiến trận Kurukshetra có 85 chết miêu tả cách cụ thể, 54 chết không nêu rõ họ tên, 31 chết có tên tuổi rõ ràng Sau chiến trận, Mahabharata tiếp tục miêu tả cụ thể 10 chết nhân vật anh hùng • Sự sống chết mối quan tâm lớn mang tính thời đại Thường sử thi anh hùng kỳ diệu hóa miêu tả chết để ngợi ca, tôn vinh lòng dũng cảm chiến binh Với Mahabharata, kỳ diệu hóa miêu tả chết để diễn tả ý nghĩa đạo đức xác lập sở cho siêu thoát người anh hùng Ảnh hưởng tư tưởng luân hồi - nghiệp báo karma - samsara Hindu giáo, người Ấn Độ cho đời mắt khâu gần chuỗi xích dài đời vô hạn, từ khứđến tới tương lai Vậy nên, chết chiến trận người anh hùng Hy Lạp để đạt tới tuyệt đích vinh quang lưu danh cho hậu với người chiến binh Ấn Độ để "mởđược cánh cửa trời" tiếp tục sống kiếp khác niềm hạnh phúc vĩnh cửu Bởi, người Ấn quan niệm chết thuộc phạm trù Quan điểm chi phối bút pháp nghệ thuật Mahabharata lựa chọn hình ảnh, biểu tượng sinh động để miêu tả chết, thể cảm quan tươi sáng thi vị giải thoát Cái chết miêu tả rừng gió bão bị bật gốc, cán cờ lớn sau ngày hội vui hay lạc ; chết sống lại tâm trí người đọc gợi bao niềm tiếc nuối, linh thiêng, huyền thoại hiển thánh… Với biểu phong phú khác thường, chết người anh hùng Mahabharata soi rọi hai góc nhìn võ sĩ tu sĩ, chứa đựng ý nghĩa mỹ học triết lý nhân sinh Kỳ diệu hóa miêu tả chết vừa để diễn tả vẻ đẹp hùng tráng người chiến binh Kshatriya, vừa để ngợi ca nét đẹp tâm linh siêu thoát người anh hùng Ấn Độ • Kỳ diệu hóa miêu tả chết bậc chiến binh lão thành 14 Nếu Iliad chết chiến trận đáng ngợi ca nhau, Mahabharata chết miêu tả với nhiều cung bậc, sắc thái, mang ý nghĩa đạo đức Mahabharata sử dụng hình ảnh thiêng liêng, huyền diệu để hóa người anh hùng qua chết Nổi bật muôn vàn chết kiểu chết lão tướng Bhisma - tổng thống lĩnh quân đội Kaurava, miêu tả suốt chương sách Bhisma qua đời Đây chết chiến trường Kurukshetra chiến trận diễn đến ngày thứ mười, trước có bao người ngã xuống Thế nhưng, chết làm kinh động đến thần linh đất trời, tác động sâu sắc đến lòng người Bỗng chốc "quân đội hai bên không giao tranh nữa, tất chiến binh chạy đến vây quanh Bhisma vĩđại Các thần linh chứng kiến đứng khoanh tay cung kính chào ông, gió nồm sực nức hương thơm phe phẩy thổi giọt mưa mát lạnh thấm ướt chiến địa" Không gian lung linh huyền ảo nửa thực, nửa hư, vòng nguyệt quế vinh quang vĩnh Nó lớn tất lời ngợi ca Trên chiến trận Kurukshetra, chư thần 12 lần thảy, có để chứng kiến người trần thi đấu, tỏ thái độ lên án cổ vũ khích lệ, có để chứng kiến chết chiến binh dũng cảm Ởđây, diện thần linh dấu hiệu báo trước "cửa trời mở", sẵn sàng đón nhận "người anh hùng xứng đáng làm khách Indra" Kết tinh cao kỳ diệu hóa miêu tả chết người anh hùng hình ảnh Bhisma ngã xuống chiến địa "Thân tên cắm chi chít không kẽ hở cho mũi tên khác lọt vào Bhisma từ xe ngã xuống, thân thể không chạm đất nằm giường mũi tên, gối gối mũi tên uống dòng nước mát dâng lên từ mũi tên cắm sâu vào lòng đất” Bộ ba hình ảnh giường tên, gối tên, nước uống dâng từ mũi tên đan dệt bầu không khí huyền thoại, hoành tráng, ngợi ca tầm vóc vũ trụ lớn lao, ý nghĩa thiêng liêng người anh hùng vĩđại Những hình ảnh độc đáo kỳ vĩđó khiến Bhisma đứng cao người Bằng chết xứng đáng Kshatriya lý tưởng, Bhisma đạt tới đỉnh cao sống đáng “hiện thân khiết” Cái chết triệt tiêu khoảng cách cõi trần cõi trời, tạo nên ảo ảnh cõi thiên đường trần gian • Kỳ diệu hóa miêu tả chết tầng lớp chiến binh non trẻ Bên cạnh chết bậc lão tướng cao niên, Mahabharata thể chết tầng lớp chiến binh trẻ tuổi mà trước mắt họ tất lạc thú yêu thương, 15 để lại lòng người đọc mối thương cảm sâu sắc Đó Uttara, Sveta, Sangia, Iravan, Santanika, Panchalya, Lasmana, Abhimanyu, Vikarna, Ghatotkacha Trong ngày giao chiến diễn chết hai vị hoàng tử trẻ tuổi vua Virata Uttara giao tranh ác liệt với Salya bị chết tức mũi lao Chàng thiếu niên dũng cảm trung thực chết khúc độc hành tiếng voi rống, chết oai phong lẫm liệt xứng đáng với đẳng cấp chiến binh "Lao bay vút, xuyên thủng ngực Uttara, đòng nhọn thúc voi tuột khỏi tay chàng chàng ngã nhào xuống chết" Một chết làm bật phẩm chất anh hùng ý nghĩa cao sống Uttara Sveta hoàng tử thứ hai nhà vua Virata, người chết tay lão tướng lừng danh Bhisma Điều đem đến cho chàng niềm vinh quang lớn Cái chết chàng diễn kỳ vĩ tức thì Sveta trúng tên ngã vật xuống Uttara Sveta người chưa kịp sống, đại diện cho hệ tương lai Chiến tranh thật khủng khiếp Cái chết họ trở thành hình ảnh thu nhỏ toàn chiến Họ để hậu chiến lại người già nua, mù lòa, phụ nữ khóc than cho người thân bị vùi chôn nấm mồ chiến tranh tàn khốc Người kể Mahabharata biểu lộ thái độđồng cảm với mát chiến tranh, thể khát vọng tha thiết với hòa bình Là hoàng tử trẻ tuổi số Kaurava, Vikarna thấu hiểu sâu sắc lẽ dharma, sống trực gan Cái chết chàng đặc biệt, gieo vào lòng đối thủ - người giết chàng - nỗi dày vò khủng khiếp, đạo lý bị hủy diệt tàn khốc Lời đánh giá cao nhất, đem lại vinh quang lớn cho Vikarna nằm tiếng than khóc kẻ giết chàng Bhima đặt Vikarna ngang với Bhisma lão thành, thể hứng thú ngợi ca tuyệt đối Mahabharata Trong số chết chiến binh trẻ tuổi, chết Abhimanyu để lại nhiều ấn tượng Mahabharata miêu tả chết vẻn vẹn có ba từ Chàng tắt thở, ngưng đọng tâm trí độc giả nỗi xót xa thiện, đẹp, đạo lý bị hủy diệt sớm Cái giản dị ngôn từ mang ý nghĩa sâu, trước Mahabharata miêu tả sinh động trình giải thoát nhân vật Tắt thở có nghĩa thông báo chết thể xác, siêu thoát linh hồn diễn từ bên trên, “chàng nhanh nhẹn trông tưởng chừng nhưđôi chân không bám mặt đất mà bay liệng không” Bằng kỳ diệu hóa, Mahabharata chắp cho chàng thiếu niên dũng cảm, sáng chói tài đôi cánh, để bàn chân chàng không chạm mặt đất tràn ngập tội lỗi, xấu xa suy đồi đạo lý 16 Ghatotkacha, trai Bhima Asura, có tâm hồn nhân hậu ẩn mặt kỳ dị Cái chết Ghatotkacha không Mahabharata trọng góc độ mỹ cảm, mà nhìn nhận giá trịảnh hưởng "Ghatotkacha từ lưng chừng trời phóng mũi tên chết người vào quân đội Kaurava, rơi xuống chết, dìm quân Pandava vào nỗi đau buồn tang tóc" Cái chết chàng thiếu niên trẻ tuổi tạo nên nỗi thương tiếc khôn nguôi tài đầy hứa hẹn Giá trị lớn chết mạng cho Arjuna, cứu sống bậc dũng sĩ anh tài Vậy là, đối sánh ngầm thiết lập, đẩy ngợi ca lên đến đỉnh Ghatotkacha ngang với Arjuna mặt - Cảm quan phê phán, hạ bệ Bên cạnh chết thể với thái độ ngợi ca tôn vinh nhằm hóa người anh hùng, có chết thể vô vị, tầm thường sống nhân vật Qua miêu tả chết người đọc cảm nhận rõ dụng ý tác giả ngợi ca hay phê phán, tôn vinh hay hạ bệ nhân vật • Cái chết méo mó, biến dạng, không đạt giải thoát Kichaka dũng tướng, tổng huy quân đội triều đình Virata, ba võ sĩ tiếng thời Nhưng, kiêu căng dục vọng làm lu mờ trí tuệ, hạ thấp nhân phẩm Kichaka Nhân vật phải trả giá cho hành động vô đạo đức chết nhục nhã chết bóng tối, mặt kẻ giết mình, chết không giữđược nguyên vẹn thi thể…Đây chết đến hai lần thể xác lẫn linh hồn, phản ánh lối sống méo mó, phẩm hạnh đạo đức loang lổ nhân vật Cái chết Kichaka gợi nhớ chết Yavakrida câu chuyện đạo sĩ Lomasa kể cho Yudhisthira vào thời kỳ lưu vong mười hai năm rừng Yavakrida người thông tuệ, lại chết khát - khát nhận thức, bị tước phép màu nhiệm sức mạnh Đây trả giá cho hành động vô đạo đức, cho dục tính Yavakrida • Cái chết trả giá cho tội ác Dữ dội khủng khiếp chết Dussasana độc ác qua hình ảnh thi thể tả tơi, tương xứng với tư cách nhân phẩm đồi bại Kết cục số phận Dussasana minh chứng rõ nét cho tư tưởng nhân nghiệp báo • Cái chết tầm thường kẻ mưu lừa, mẹo lọc Cái đầu gốc rễ hành vi tội lỗi lăn đất hình ảnh chết Sakuni gợi cho ta cảm giác ghê rợn Mahabharata kết luận "Cái đầu gốc rễ hành vi tội lỗi họ Kaurava" Mưu mô ván oan nghiệt 17 nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chiến tranh khốc liệt, làm suy đồi đạo lý dharma Cái chết cho ta lần ngược lại ý nghĩa sống nhân vật Sử thi Mahabharata câu chuyện lớn kỳ diệu mang đậm màu sắc tôn giáo đạo đức "Những đau buồn sống nhân gian mô tả với vẻđẹp cao diễn toàn cảnh lớn Đằng sau câu chuyện lầm lạc đau khổ, nhà thơ giúp có ảo tưởng cõi thực cõi thiên tiên" Kỳ diệu hóa miêu tả chết cho thấy nhân vật anh hùng sử thi mặt chịu ràng buộc chặt chẽ với đam mê trần mãnh liệt, mặt không nguôi vươn tới khát vọng tâm linh huyền bí cao đẹp Vì thế, Mahabharata vừa mang vẻđẹp truyền thống lại vừa mang nét độc đáo riêng biệt Chính cảm quan nghệ thuật làm nên chiều sâu giá trị tác phẩm, để Mahabharata vượt dòng chảy thời gian, đăng quang cho đẹp, thiện cõi đời Sử thi thể loại văn học không trở lại, cảm hứng sử thi hướng tới cao cả, thiêng liêng kỳ diệu mãi nhiệt hứng sáng tạo nghệ thuật muôn đời III Giá trị ảnh hưởng sử thi Mahabharata Giá trị văn hóa Với tư tưởng yên chuộng hòa bình thấm đượm sử thi mahabharata Mặc dù tác phẩm diễn tả lại đến gần bùng nổ chiến tranh khốc liệt, sau phải làm cho người phả suy nghĩ tính chất chiến tranh Đặc biệt hai sử thi tiếng phạn sanskrit vĩ đại sử thi Ấn Độ Người ta thấy mahabharata gương đa diện phản chiếu tất mặt đời sống xã hội Ấn Độ cổ đại Ở nhà nghiên cứu Ấn tìm thấy nhiều điều đời sống với tư ngưỡng tầng lớp vũ sỹ ksatriya máy nhà nước, luật pháp, trị, hành ngoại giao dẫn tộc học pbong tục, tập quán, hôn nhân, đời sống vật chất đời sống tinh thần tầng lớp nhân dân Ấn Độ Một tục ngữ người Ấn Độ xác nhận, đồ sộ tác phẩm " Cái không thấy mahabharata thấy Ấn Độ” Giá trị lịch sử Sử thi mahabharata sử thi vĩ đại trước hết phản ảnh toàn diện đời sống, tình cảm trí tuệ người Ấn Độ buổi bình minh lịch sử Nhiều nhà nghiên cứu Ấn Độ mahabharata tranh thu nhỏ chế độ lịch sử lúc Cho ta thấy cốt lõi tộc lưu vực sông Hằng 18 khoảng thiên niên kỉ thứ II TCN Trong trình hợp thành tạo dựng nhà nước đầu tiên, người A-Ry-An Ngoài phản ánh đời chế độ đẳng cấp cổ đại Qua dử thi nhận thấy lúc đầu đẳng cấp vũ sỹ ksa-triya Vì nói bản, mahabharata tác phẩm có giá trị lịch sử bậc sức mạnh toàn dhác-ma, tức đạo đức, bổn phận Bằng câu chuyện đầy hình tượng, mà tác phẩm tô đậm thêm chân lí nhân gian nhiều dân tộc " hiền gặp lành" " ác giả ác báo" phương châm sử cổ điển " không muốn đừng làm cho người khác" Đằng sau học giáo huấn tảng tôn giáo vững thấp thoáng bóng dáng vị thần linh, đấng siêu nhiên, ban thưởng, trừng phạt Ảnh hưởng sử thi Mahabharata Bộ sử thi tác động lớn đến đời sống tinh thần tập tục người dân Ấn Độ Mahabharata có ảnh hưởng sâu rộng giới đặc biệt Đông Nam Á Rất nhiều cốt truyện phóng tác từ sử thi nước Đông Nam Á Ở Campuchia, Mahabharata xuất sớm hình phù điêu đền AngCo đền khác Nó trở thành báu vật quý giá kho tàng văn học Ấn Độ lấy cảm hứng sảng tạo cho hội họa, điêu khắc, thơ ca, điện ảnh,… Không ảnh hưởng với văn hóa, lịch sử người Ấn Độ mà ảnh hưởng giới KẾT LUẬN Ngạn ngữ Ấn Độ có câu “Những Mahabharata đất nước Ấn Độ” Điều chứng tỏ sử thi Mahabharata bao trùm toàn sống người Ấn Độ Đó niềm tự hào người dân Ấn Độ sử thi Và điều nói lên tầm quan trọng to lớn Mahabharata đất nước người Ấn Độ Cho đến hôm nay, Mahabharata tác động lớn đến đời sống tinh thần tập tục người dân Ấn Độ Nó trở thành báu vật quý kho tàng văn học Ấn Độ, cảm hứng sáng tạo cho hội họa, điêu khắc, thơ ca, điện ảnh,… Mahabharata bách khoa toàn thư người dân Ấn Độ Tác phẩm cho thấy người Ấn Độ đề cao tính nhân sinh, nghĩa giá trị sống 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO Bài viết Những anh hùng nửa trần tục – nửa thần linh triển khai lí tưởng kiểu mẫu anh hùng sử thi Mahabharata Ấn Độ web Văn học ngôn ngữ Luận văn “Chiến tranh tôn giáo sử thi Mahabharata” Bài viết “Nghệ thuật miêu tả chết sử thi Mahabharata” Theo TẠP CHÍ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT Website Cơ quan ngôn luận hội nhà Văn Việt Nam Lưu Đức Trung, Văn học Ấn Độ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2009, tr 111, 112 Tìm hiểu văn hóa Ấn Độ - Nguyễn Thừa Hỷ 20 DANH SÁCH NHÓM VÀ PHÂN CÔNG THỰC HIỆN Mai Thị Phương Mai Nhóm trưởng - Word + Power Point - Nội dung sử thi Mahabharata Lê Thị Thanh Tâm - Nghệ thuật sử thi Mahabharata Nguyễn Thị Ánh Ly - Vài nét tác phẩm Nguyễn Thị Thúy Mỹ - Nguồn gốc ảnh hưởng sử thi Mahabharata Đặng Thị Diễn - Giá trị văn hóa lịch sử sử thi Mahabharata Đinh Thị Thanh Vy - Nội dung sử thi Mahabharata 21 [...]... Phương Mai Nhóm trưởng - Word + Power Point - Nội dung của sử thi Mahabharata 2 Lê Thị Thanh Tâm - Nghệ thuật của sử thi Mahabharata 3 Nguyễn Thị Ánh Ly - Vài nét về tác phẩm 4 Nguyễn Thị Thúy Mỹ - Nguồn gốc và ảnh hưởng của sử thi Mahabharata 5 Đặng Thị Diễn - Giá trị văn hóa và lịch sử của sử thi Mahabharata 6 Đinh Thị Thanh Vy - Nội dung của sử thi Mahabharata 21 ... 2 Luận văn “Chiến tranh và tôn giáo trong sử thi Mahabharata 3 Bài viết Nghệ thuật miêu tả cái chết trong sử thi Mahabharata Theo TẠP CHÍ VĂN HÓA NGHỆ THUẬT 4 Website Cơ quan ngôn luận của hội nhà Văn Việt Nam 5 Lưu Đức Trung, Văn học Ấn Độ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2009, tr 111, 112 6 Tìm hiểu văn hóa Ấn Độ - Nguyễn Thừa Hỷ 20 DANH SÁCH NHÓM VÀ PHÂN CÔNG THỰC HIỆN 1 Mai... lòng hận thù Như vậy, có thể khẳng định bộ sử thi không phải chỉ là cuộc chiến giành giật đất đai và mở rộng và cõi mà nó đã đề cao lý tưởng và đạo đức của thời đại; chiến thắng của đạo đức và công lý, hoàn thi n bổn phận và danh dự mà Đacma đề ra Sử thi còn mang những ý nghĩa thuần túy, mang những giá trị của nhân sinh và lý tưởng sinh sống của con người Và ở đây hi vọng xây dựng một xã hội bình yên,... nhiệt hứng sáng tạo nghệ thuật muôn đời III Giá trị và ảnh hưởng của sử thi Mahabharata 1 Giá trị văn hóa Với tư tưởng yên chuộng hòa bình cũng thấm đượm trong sử thi mahabharata Mặc dù tác phẩm diễn tả lại sự đến gần và bùng nổ của một cuộc chiến tranh khốc liệt, nhưng sau đó phải làm cho con người phả suy nghĩ về tính chất của cuộc chiến tranh Đặc biệt đây là một trong hai sử thi tiếng phạn sanskrit... “Những gì không có trong Mahabharata thì không có trên đất nước Ấn Độ” Điều đó chứng tỏ sử thi Mahabharata đã bao trùm toàn bộ cuộc sống của con người Ấn Độ Đó là niềm tự hào của người dân Ấn Độ về pho sử thi Và điều này cũng nói lên tầm quan trọng to lớn của Mahabharata đối với đất nước và con người Ấn Độ Cho đến hôm nay, Mahabharata vẫn còn tác động rất lớn đến đời sống tinh thần và tập tục của người... huyền bí cao đẹp Vì thế, Mahabharata vừa mang vẻđẹp truyền thống lại vừa mang nét độc đáo riêng biệt Chính cảm quan nghệ thuật ấy đã làm nên chiều sâu giá trị của tác phẩm, để Mahabharata vượt ngoài dòng chảy của thời gian, đăng quang cho cái đẹp, cái thi n trên cõi đời Sử thi như một thể loại văn học đã một đi không trở lại, nhưng cảm hứng sử thi hướng tới sự cao cả, thi ng liêng và kỳ diệu thì mãi mãi... đồ sộ của tác phẩm " Cái gì không thấy được ở mahabharata thì cũng không thể nào thấy được ở Ấn Độ” 2 Giá trị lịch sử Sử thi mahabharata là một bộ sử thi vĩ đại trước hết vì nó phản ảnh toàn diện đời sống, tình cảm và trí tuệ của người Ấn Độ trong buổi bình minh của lịch sử Nhiều nhà nghiên cứu Ấn Độ mahabharata là bức tranh thu nhỏ của chế độ lịch sử lúc bấy giờ Cho ta thấy được cái cốt lõi của... nhân vật Sử thi Mahabharata là một câu chuyện lớn và kỳ diệu mang đậm màu sắc tôn giáo đạo đức "Những đau buồn của cuộc sống nhân gian được mô tả với một vẻđẹp cao cả và nó diễn ra trên một toàn cảnh lớn Đằng sau câu chuyện về những lầm lạc và đau khổ, nhà thơ giúp chúng ta có một ảo tưởng về cõi thực và cõi thi n tiên" Kỳ diệu hóa trong miêu tả cái chết cho thấy nhân vật anh hùng của sử thi này một... tranh giữa hai phe Pandava – Kôrava trên chiến trường mà còn chủ quan hóa xung đột đó trong sự đấu tranh và khắc phục giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, ánh sáng và bóng tối trong tâm hồn của mỗi nhân vật Sử thi này khôngphân tuyến nhân vật một cách đơn giản theo cực thi n – cực ác 12 Sử thi Mahabharata cho thấy cái anh hùng trong quan niệm Ấn Độ không bao giờ tách rời các tiêu chuẩn đạo đức, nó... đó còn là một phương châm sử thế cổ điển " cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác" Đằng sau những bài học giáo huấn là một nền tảng tôn giáo vững chắc ở đó thấp thoáng bóng dáng của các vị thần linh, các đấng siêu nhiên, ban thưởng, trừng phạt 3 Ảnh hưởng của sử thi Mahabharata Bộ sử thi đã tác động rất lớn đến đời sống tinh thần và tập tục của người dân Ấn Độ Mahabharata có sự ảnh hưởng ... đẹp, thi n cõi đời Sử thi thể loại văn học không trở lại, cảm hứng sử thi hướng tới cao cả, thi ng liêng kỳ diệu mãi nhiệt hứng sáng tạo nghệ thuật muôn đời III Giá trị ảnh hưởng sử thi Mahabharata ... hùng sử thi Mahabharata Ấn Độ web Văn học ngôn ngữ Luận văn “Chiến tranh tôn giáo sử thi Mahabharata Bài viết “Nghệ thuật miêu tả chết sử thi Mahabharata ... Power Point - Nội dung sử thi Mahabharata Lê Thị Thanh Tâm - Nghệ thuật sử thi Mahabharata Nguyễn Thị Ánh Ly - Vài nét tác phẩm Nguyễn Thị Thúy Mỹ - Nguồn gốc ảnh hưởng sử thi Mahabharata Đặng Thị - Xem thêm -Xem thêm Nội dung và nghệ thuật Sử Thi Mahabharata, Nội dung và nghệ thuật Sử Thi Mahabharata, , Vài nét về tác phẩm, II. Nội dung và nghệ thuật của sử thi Mahabharata
9 April, 2014 at 1132 pm Hôm nay được nghe lời quảng cáo của bạn Surya về trai đẹp’ trong bộ phim truyền hình Mahabharata. Đặt cục gạch ở đây, sẽ thử tìm hiểu về bộ sử thi này. Bài tóm tắt rất tếu, và rất hay của Nguyễn Hoài Vân phần 1 phần 2 phần 3 Tác phẩm này được coi là “Đại Bách khoa toàn thư” về văn hóa truyền thống, về các truyền thuyết và về các thể chế chính trị – xã hội của Ấn Độ cổ xưa. Nó là tấm gương phản chiếu toàn bộ đời sống con người Ấn Độ truyền thống như lời một câu ngạn ngữ cổ “Cái gì không thấy được ở trong Mahabharata thì cũng không thể nào thấy được ở Ấn Độ.” Wiki Entry filed under Đọc.
Mahabharata là một bài thơ sử thi tiếng Phạn cổ đại kể về câu chuyện của vương quốc Kurus. Nó dựa trên một cuộc chiến thực sự diễn ra vào thế kỷ 13 hoặc 14 TCN giữa các bộ tộc Kuru và Panchala của tiểu lục địa Ấn Độ. Nó được coi là cả một tài khoản lịch sử về sự ra đời của Ấn Độ giáo và một quy tắc đạo đức cho các tín hữu. Bối cảnh và Lịch sử Mahabharata, còn được gọi là sử thi vĩ đại của triều đại Bharata, được chia thành hai cuốn sách gồm hơn câu thơ, mỗi câu có chứa hai dòng hoặc hai câu tổng cộng hơn 1,8 triệu từ. Đó là khoảng 10 lần miễn là " The Illiad ," một trong những bài thơ sử thi phương Tây đáng chú ý nhất. Người Hindu thánh Vyasa thường được công nhận là người đầu tiên biên soạn Mahabharata, mặc dù toàn bộ văn bản được lắp ráp giữa thế kỷ thứ 8 và thứ 9 trước Công nguyên và những phần cổ nhất có từ 400 TCN đến nay xuất hiện nhiều lần trong Mahabharata. Tóm tắt của Mahabharata Mahabharata được chia thành 18 parvas hoặc sách. Câu chuyện chính kể về năm người con trai của Vua Pandu đã chết Pandavas và 100 người con trai của vua Dhritarashtra mù Kauravas, người đã phản đối nhau trong cuộc chiến vì chiếm hữu vương quốc Bharata tổ tiên trên sông Ganga ở miền bắc-trung tâm Ấn Độ. Nhân vật chính trong sử thi là thần Krishna . Mặc dù Krishna có liên quan đến cả Pandu và Dhritarashtra, ông mong muốn thấy chiến tranh xảy ra giữa hai gia tộc và coi các con trai của Pandu là những công cụ của con người để hoàn thành cái kết đó. Lãnh đạo của cả hai gia tộc tham gia vào một trò chơi xúc xắc, nhưng trò chơi là gian lận trong lợi của Dhritarashtras và gia tộc Pandu thua, đồng ý dành 13 năm sống lưu vong. Khi thời gian lưu vong kết thúc và gia tộc Pandu trở lại, họ thấy rằng các đối thủ của họ không muốn chia sẻ quyền lực. Kết quả là, chiến tranh nổ ra. Sau nhiều năm xung đột bạo lực, trong đó cả hai bên đều phạm nhiều tội ác và nhiều trưởng lão trong clan bị giết, Pandavas cuối cùng cũng xuất hiện những người chiến thắng. Trong những năm sau chiến tranh, Pandavas sống một cuộc sống khổ hạnh trong một cuộc nhập thất rừng. Krishna bị tàn sát trong một cuộc cãi vã say rượu và linh hồn của anh ta tan biến trở lại với Vishnu Thượng Đế Thượng Đế. Khi họ biết điều này, Pandavas tin rằng đã đến lúc họ rời khỏi thế giới này. Họ bắt tay vào một cuộc hành trình tuyệt vời, đi về phía bắc về phía thiên đàng, nơi mà cả hai gia tộc sẽ sống hài hòa. Nhiều subplots dệt trong suốt các văn bản sử thi, sau nhiều nhân vật khi họ theo đuổi chương trình nghị sự của riêng mình, vật lộn với tình trạng khó xử đạo đức và đi vào cuộc xung đột với nhau. Chủ đề chính Phần lớn các hành động trong Mahabharata được đi kèm với thảo luận và tranh luận giữa các nhân vật của văn bản. Bài giảng nổi tiếng nhất, bài giảng trước chiến tranh của Krishna về đạo đức và thần tính đối với người theo ông Arjuna, còn được gọi là Bhagavad Gita , nằm trong sử thi. Một số chủ đề đạo đức và thần học quan trọng của Mahabharata được gắn với nhau trong bài giảng này, cụ thể là sự khác biệt giữa chiến tranh công bằng và bất công. Krishna đưa ra những cách thích hợp để tấn công kẻ thù, cũng như khi thích hợp để sử dụng vũ khí nhất định và cách đối xử với tù nhân chiến tranh. Tầm quan trọng của lòng trung thành gia đình và gia tộc là một chủ đề lớn khác. Tác động đến văn hóa phổ biến Mahabharata đã có một ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa đại chúng, đặc biệt là ở Ấn Độ, cả trong thời cổ đại và hiện đại. Đó là nguồn cảm hứng cho "Andha Yug" trong tiếng Anh, "The Epoch Blind", một trong những vở kịch được sản xuất rộng rãi nhất ở Ấn Độ trong thế kỷ 20 và được trình diễn lần đầu tiên vào năm 1955. Pratibha Ray, một trong những nữ đáng chú ý nhất của Ấn Độ. các nhà văn, đã sử dụng bài thơ sử thi làm nguồn cảm hứng cho cuốn tiểu thuyết đoạt giải thưởng "Yajnaseni ", xuất bản lần đầu tiên vào năm 1984. Văn bản Hindu cũng đã truyền cảm hứng cho rất nhiều chương trình truyền hình và phim ảnh, bao gồm bộ phim "Mahabharat " , bộ phim hoạt hình đắt nhất từng được sản xuất ở Ấn Độ khi nó được phát hành vào năm 2013. Đọc thêm Phiên bản Ấn Độ cuối cùng của Mahabharata, còn được gọi là ấn bản quan trọng, được biên soạn trong suốt gần 50 năm ở thành phố Pune, kết thúc vào năm 1966. Mặc dù đây được coi là phiên bản Hindu có thẩm quyền ở Ấn Độ, cũng có những biến thể của khu vực, đặc biệt là ở Indonesia và Iran. Bản dịch tiếng Anh đầu tiên và đáng chú ý nhất xuất hiện trong thập niên cuối thập niên 1890 và được biên soạn bởi học giả người Ấn Độ Kisari Mohan Ganguli. Đây là phiên bản tiếng Anh hoàn chỉnh duy nhất có sẵn trong phạm vi công cộng, mặc dù một số phiên bản ngưng tụ cũng đã được xuất bản.
Đại học Huế Trường đại học sư phạm Khoa Ngữ văn Bài thảo luận Chiến tranh và tôn giáo trong sử thi Mahabharata Ấn Độ Môn Văn học Châu Á Giáo viên hướng dẫn Thạc sĩ Hoàng Xuân Vinh Nhóm sinh viên thực hiện Nhóm 1 tổ 3- Văn 3B Huế 05,2010 1 Danh sách nhóm 1 tổ 3- Lớp Văn 3B 1. Nguyễn Thị Phương Ly Nhóm trưởng- người thuyết trình 2. H’ Rôma Mlô Nhóm phó- thư kí 3 . Lương Văn Duyên 4. Nguyễn Lê Hoài Nam 5. Bùi Thị Hà My 6. Trần Thị Nguyệt 7. Dương Ánh Minh 8. Phạm Thị Minh Nguyệt 9. Đoàn Thị Nhi 2 Lời cảm ơn Xin gởi vào đây lời cảm ơn chân thành đến cô giáo- thạc sĩ Hoàng Xuân Vinh và tổ 3- lớp Văn 3B đã tạo điều kiện và giúp đỡ chúng em thực hiện đề tài này. Tập thể nhóm Mục lục Phần 1 Khái quát chung I. Vài nét về đất nước Ấn Độ II. Đặc trưng sử thi Ấn Độ III. Sử thi Mahabrahata 1. Nguồn gốc và ảnh hưởng a. Nguồn gốc b. Ảnh hưởng 2. Tóm tắt cốt truyện Phần 2 Chiến tranh và tôn giáo trong sử thi Mahabrahata Ấn Độ I. Chiến tranh 1. Cốt truyện chiến tranh II. Tôn giáo 1. Vài nét về tôn giáo Ấn Độ 3 Phần I. Khái quát chung I. Vài nét về đất nước Ấn Độ Ấn Độ là một đất nước có nhiều chủng tộc, mang nhiều ngôn ngữ khác nhau, ước tính có tới 1652 ngôn ngữ. Ấn Độ là nước có nền văn minh rất sớm không kém Hi Lạp , La Mã, Ai Cập. Những cuộc khai quật của các nhà khảo cổ học nổi tiếng đầu thế kỉ XX ở vùng Harappa và vùng Mônhengiô Đarô trên lưu vực sông Ấn chứng minh từ 3000 năm trước Công Nguyên đã xuất hiện một nền văn hóa khá rực rỡ của người Đraviđian. Ấn Độ là một đất nước vô cùng phong phú đa dạng hội đủ mọi sắc thái về điều kiện tự nhiên. Với lãnh thổ trải dài từ 7-32 độ vĩ bắc và 67 – 87 độ kinh đông, đó là một bán đảo hình tam giác tưởng chừng như một khối thống nhất đơn giản về địa hình khí hậu nhưng đi sâu vào trong đó mới có thể thấy được mọi thiên hình vạn trạng của đất nước này. Với trí tưởng tượng phong phú của mình, người dân Ấn Độ hình dung đất nước họ như một nàng tiên cá xinh đẹp có mái tóc bạch kim dài tung bay trong mây trời Himalaya và có cái đuôi cá vẫy vùng trong Ấn Độ Dương xanh thẳm. Còn dãy núi Himalaya bao la hùng vĩ là vận mệnh của Ấn Độ. Nó gợi lên bao nỗi sợ hãi cho tất cả mọi người nơi đây. Trong đó ẩn chứa biết bao câu chuyện huyền thọai linh thiêng gắn liền với đất nước con người Ấn Độ. Người ta nói rằng, dãy núi này trước kia vốn là một đàn voi biết bay đã làm phật ý vị thần vạn năng Indra, cho nên thần đã trừng phạt chúng bằng cách cắt mất cặp cánh của chúng và biến chúng thành những ngọn núi hùng vĩ . Nơi đây cũng trên ngọn núi Kailasa là nơi thiền định của vị thần Shiva để giúp cho thế gian được tiếp tục tồn tại. Bên cạnh những sự tích thân thọai đó, ẩn dưới những bóng rợp của rừng cây bạt ngàn là những vị tu sĩ khổ hạnh. Họ rời bỏ cuộc sống gia đình trần tục để ngồi dưới gốc cây thiền định suy tư về vũ trụ bao la này. Nhìn lên những tán rợ của rừng núi Himalaya, họ cảm thấy thế giới thì bao la quá, mà con người chỉ là những sinh vật nhỏ bé phu du , họ tự hỏi sao vũ trụ thì vô hạn, mà vì sao con người lại hữu hạn, đối mặt với sinh lão bệnh tử, với nỗi đau khổ trầm luân, cũng từ đó, họ muốn tìm kiếm sự giải thoát khỏi cuộc sống này, muốn tách cái Atman linh hồn cá thể hòa nhập vào cái Braman linh hồn 4 vũ trụ đạt đến niềm vui bất diệt giải thoát khỏi sự luân hồi. Dãy núi Himalaya Cũng từ dãy núi Hymalaya đó, hai dòng sông Ấn Hằng tuôn chảy xuống đồng bằng như dòng sữa mẹ ngọt ngào nuôi lớn người dân Ấn Độ bằng nguồn phù sa dồi dào. Chính nơi đây đã bắt đầu buổi bình minh sơ khai của đất nước Ấn Độ, là cái nôi văn hóa cổ xưa lâu đời nhất trên thế giới và trường tồn liên tục nhất quán cho đến ngày hôm nay. Đất nước có tên Ấn Độ cũng bắt nguồn từ dòng sông Indus này. Nó chảy về phía tây, đổ ra vịnh Bengal chia làm năm nhánh nên được gọi là vùng Punjab. Nhưng đối với tâm thức người Ấn Độ, dòng sông Hằng Ganga là một dòng sông linh thiêng có khả năng thanh tẩymọi tội lỗi. theo thần thoại, nữ thần Ganga được sinh ra từ một ngón chân thần Vishnu. Bà sống trên trời trước khi xuống trần gian. Khi mặt đất phủ đầy tro hỏa táng, hiền nhân Bhagiratha đã câu khấn thần Brahma và Shiva để cho dòng sông Hằng chảy xuống trần gian để rửa sạch lớp tro này và giải thóat cho linh hồn những người chết. Để phòng ngừa sự ngập lụt nguy hại, thần Shiva để cho nước rót xuống đầu mình chảy ngoằn ngoèo qua các lọn tóc rối quăn của thần và thần đã chia nó ra làm bảy con suối chảy yên lành trên nước Ấn Độ. Với niềm tin như thế, hàng triệu người dân Ấn Độ hàng năm, hay ít nhất là một lần trong đời mình đều phải đến đây để hành hương. Họ muốn được tắm dưới dòng sông Hằng, uống nước sông Hẳng, và chết thả mình dưới dòng sông Hằng linh thiêng thần thánh nhằm được giải thoát khỏi bể khổ muôn đời. 5 Thần Shiva trên sông Hằng Ấn Độ được mệnh danh là xứ sở của tôn giáo, xứ sở tâm linh. II. Đặc trưng sử thi Ấn Độ Văn học cổ đại Ấn Độ có hai thành tựu vĩ đại là thần thoại và sử thi ra đời trên cơ sở xã hội Ấn Độ đã phát triển qua chế độ quân chủ phong kiến nhiều vương quốc đã hình thành. Sử thi là bức tranh rộng lớn phản ánh hiện thực đời sống, tư tưởng của nhân dân Ấn Độ cổ đại. Nó còn là bài ca vĩ đại ca ngợi những chiến công hiển hách, khí phách hào hùng được đề cao và ngưỡng mộ như những mẫu người lý tưởng. Sử thi Ấn Độ có những nét đặc trưng rất riêng biệt mang đậm dấu ấn của đất nước và con người Ấn Độ. Nét đặc trưng dễ thấy nhất là sử thi Ấn Độ mang tính quy mô đồ sộ, trên thế giới ít có bộ sử thi nào sánh ngang được với Mahabrahata và Ramayana về quy mô. Nguyên do là bởi người Ấn Độ có thói quen suy nghĩ triền miên, giàu óc tưởng tượng. Hơn nữa đất nước Ấn Độ rộng lớn có nhiều dân tộc, nhiều truyền thuyết, nhiều huyền thoại. Các nghệ nhân kể chuyện thường sưu tầm các câu chuyện lan truyền trong các địa phương, sâu chuỗi lại làm 6 nội dung thêm phong phú và được kéo dài. Vì thế sử thi Ấn Độ có sức khái quát rộng lớn. Chính vì sự đồ sộ về quy mô của những thiên sử thi mà hệ thống nhân vật cũng rất đa dạng và phong phú. Nhân vật trong sử thi Ấn Độ bao gồm nhiều anh hùng, đạo sĩ, người phụ nữ, thần thánh, ma quỷ, quái vật… Tính giáo huấn sâu đậm cũng là đặc trưng của sử thi Ấn Độ. Dĩ nhiên sử thi của dân tộc nào cũng mang tính giáo huấn. Nó là cuốn bách khoa toàn thư về đạo đức, luân lí của dân tộc. Nhưng sử thi Ấn Độ mang đậm tính giáo huấn hơn. Bởi Ấn Độ là một xứ sở có nhiều tôn giáo, nhân dân Ấn Độ là những con người mộ đạo, giáo lí các tôn giáo được phản ánh khá sâu sắc trong các sử thi. Sử thi Ấn Độ chứa trong nó nhiều triết lí, giáo lí sâu sắc của nhiều tôn giáo khác nhau cho nên sự xung đột gay gắt về đạo lí trong sử thi là điều tất yếu. Sử thi Ramayana và Mahabharata không chú trọng miêu tả chiến tranh mà chú trọng miêu tả xung đột giữa cái thiện cái ác, giữa đạo lí và phi đạo lí. Nếu có xung đột với nhau, trước tiên phải hòa giải, nếu không thành mới tiến hành chiến tranh. Mục đích cuối cùng của chiến tranh là hòa hợp, hòa bình. Đó là tinh thần Ấn Độ. Những đặc trưng đó của sử thi Ấn Độ có thể tìm thấy một cách trọn vẹn, toàn diện trong bộ sử thi Mahabrahata. Cùng với Ramayana, hai tác phẩm sử thi Ấn Độ được đánh giá là “Chẳng khác gì những kim tự tháp khổng lồ sừng sững. Đứng trước những công trình đó, những tác phẩm nhỏ bé của phương Tây sẽ phải kính cẩn nghiêng mình” Michelet, nhà phê bình văn học Pháp thế kỉ XIX. III. Sử thi Mahabharata 1. Nguồn gốc và ảnh hưởng a. Nguồn gốc Cũng như Ramayana hoặc các tác phẩm khác ở thời kì cổ đại, Mahabharata cũng khó xác định dược thời gian cụ thể. Theo các nhà nghiên cứu câu chuyện được lưu truyền từ thế kỉ V TCN. Về sau được bổ sung liên tiếp, nhiều người ghi chép và chỉnh biên cho mãi đến đầu thế kỉ V đầu Công Nguyên mới chấm dứt. Theo truyền thuyết người sưu tập đầu tiên cuốn sử thi này là đạo sĩ Krixna Dwaipayana Vyasa, cũng là một trong những ông tổ của các nhân vật sử thi Vyasa có nghĩa là sưu tập Vyasa đã thức dậy lúc bình minh suốt 3 năm ròng để sáng tác tác phẩm tuyệt diệu này. Nguyên bản lúc đầu có khi lên đến hàng ngàn vạn câu thơ, nhưng đến nay chỉ còn sưu tầm được slôka câu thơ đôi gồm 22 vận dòng. Bản viết bằng tiếng Sans Krit đầu tiên đươc in ra ở Calcuta vào năm 1884. Bản dịch ra Anh văn đầu tiên là bản của Protapchanđra Roy, in 1883. Bản 7 dịch ra tiếng Việt đầu tiên hiện nay dựa vào bản tóm tắt cốt truyện bằng Anh văn của C. Kajagopalachari. b. Ảnh hưởng Mahabharata có ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới đặc biệt là ở Đông Nam Á. Ở Indonexia, khoảng thế kỉ VII đến thế kỉ VIII xuất hiện nhiều truyện được phóng tác từ cốt truyện Mahabharata, như truyện Trận đánh vĩ đại của con cháu Bharata bằng tiếng Java cổ, Đám cưới của Acgiuna Ayuna Wiwaha. Ở Campuchia, Mahabharata sớm xuất hiện , rõ nét nhất vào thời kì văn học Ăngco, nhiều cảnh trong Mahabharata được thể hiện bằng phù điêu trên mặt đền Ăngco và nhiều đền đài khác. 2. Tóm tắt cốt truyện Bharata, vua của triều đại Mặt Trăng sinh ra 2 người con trai thành 2 dòng họ Kuru và Panđu. Panđu sinh đươc 5 người con trai gọi là ahn em Panđava. Còn Đritaratra bị mù lòa thuộc dòng họ Kuru sinh được 100 người con trai gọi là anh em Korava. Panđu qua đời, Đritararata lên ngôi, đem 5 người con của anh về nuôi. Năm anh em trưởng thành nhanh chóng nổi tiếng là những người tài cao, đức trọng. Điều đó làm cho ahn em Korava ghen tị. Bọn họ đã nhiều lần lập mưu hãm hại từng người trong 5 anh em nhưng đều thất bại. Đritararatra biết rõ điều đó, đem 5 anh em Panđava đến ở lâu đài Varanamvada. Ahn em Korava lại lập mưu đốt cháy lâu đài hòng giết chết họ nhưng nhờ biết tin tức trước nên anh em Panđava dẫn mẹ là Kunti trốn được vào rừng sâu. Họ cải trang thành những đạo sĩ Balamôn và sống ẩn dật. Một năm sau, vua Đrôpađa xứ Panchala mở hội kến phò mã cho công chúa Đrôpađi xinh đẹp. Anh em Panđava nghe tin bèn đến thi tài. Các hoàng tử 4 phương đều thất bại, không ai có thể giương cung bắn được mũi tên xuyên qua bánh xe đang quay, lấy mắt cả vàng làm đích. Duy chỉ có Acgiuna, em trai thứ 3 của anh em Panđava giương cung bắn 5 phát trúng cả 5. Acguna làm đám ở thành cưới với công chúa Đrôpađi. Năm anh em đem Đrôpađi về ra mắt bà Kunti. Vừa về, một người nói “ thưa mẹ, hôm nay chúng con mang về một vât quý”. Bà Kunti liền nói “ thế thì các con hãy chia đều cho nhau”. Lời của bà thành mệnh lệnh thế là Đrôpađi thành vợ của 5 anh em. Sau việc này, Đritatra và anh em Korava biết được 5 anh em Panđava vẫn còn sống. Đritaratra mời 5 anh em về chia một nửa vương quốc. Yudihitira là anh cả được tôn làm vua vương quốc Inđraprasa cạnh vương quốc Haxtinapura của dòng họ Korava. Nhờ tài năng và đức độ, vương quốc của 5 anh em Panđava trở nên thịnh vượng. Một lần nữa, anh em Korava lại ghen tị và tìm cách tiêu diệt. Yudihitira vốn say mê cờ bạc nên bị Duryodara lôi vào cảnh sát phạt trên bàn xúc xắc. Mất cả vương quốc, anh em Panđava lần nữa lại đem mẹ già 8 và vợ con vào rừng ẩn dật 13 năm. Hết hạn đó họ trở lại vương quốc của mình nhưng Duryodara lật lọng không chịu trao trả vương quốc. Anh em Pandava tức giận buộc phải gây chiến với anh em Korava. Cuộc chiến tranh giữa anh em dòng họ Bharata nổ ra, lôi cuốn các vương quốc lân cận tham chiến, hàng triệu người tham gia trận mạc với hàng vạn ngựa xe cung kiếm. Chiến trường Curusetora mù mịt khói lửa trong vòng 8 ngày, hàng triệu xác chết chất thành núi, máu đỏ thành sông. Kết thúc chận chiến chỉ còn 11 người sống sót. Anh em Panđava tuy chiến thắng nhưng vô cùng đau xót khi phải chém giết anh em cùng huyết thống của mình. Sau khi làm lể giết ngựa làm lể tế thần Ashvamedha để tỏ lòng sám hối, Yudihitira lên ngôi trị vì trong 36 năm. Câu chuyện kết thúc bằng cuộc hành hương của 5 anh em Panđava và nàng Đropađi lên đỉnh Mêru của ngọn núi Himalaya, nơi đó là cõi trời. Dọc đường Đropađi và 4 anh em lần lượt bỏ xác ở trần gian riêng Yudihitira và con chó mà chàng gặp dọc đường nhận làm bạn đồng hành là lên được núi. Vì thần Inđra không cho con chó vào cõi trời nên Yudihitira đã không vào cõi Trời. Lúc ấy con chó biến thành thần Đácma vầ cho biết đây là hành động thử thách đạo đức. Khi vào cõi Trời Yudihitira đã xin ở lại chốn hỏa ngục với an hem và bạn bè của chàng vì đó là Yudihitira “ thiên đường của tôi” . Trước sau Yudihitira vẫn thể hiện lòng trung thành của mình cho nên năm anh em đều được vào chốn vĩnh hằng Phần II. Chiến tranh và tôn giáo trong sử thi Mahayana I. Chiến tranh 1. Nền tảng lịch sử Nền tảng lịch sử của Mahabharata là một thời đại đầy nhiễu nhương xung đột. - Xung đột giữa chế độ thị tộc dựa trên cơ sở huyết thống với chế độ chiếm hữu nô lệ mới manh nha trên cơ sở tư hữu và thể chế nhà nước. - Xung đột giữa hai đẳng cấp BRAHMANA tăng lữ và KSHATRIYA Võ sĩ quí tộc trong cuộc chiến đấu giành quyền lực tối thượng giữa thần quyền và vương quyền. - Xung đột giữa nội bộ đẳng cấp KSHATRIYA trong những cuộc chiến tranh giành đất đai, mở rộng bờ cõi giữa các vương quốc, các tiểu vương quốc, các bộ lạc cổ đại. Các xung đột này thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau và thể hiện ra thành những cuộc chiến tranh có qui mô to lớn, sức huỷ diệt khủng khiếp của thời kì cổ đại. 9 Mahabharata là kí ức lịch sử về những cuộc chiến tranh như vậy. Tác phẩm kể về cuộc chiến tranh cốt nhục giữa hai chi thuộc cùng dòng họ Bharata. Pandava tấn công Kaurava để giành lại vương quốc của họ đã bị chiếm đoạt một cách bất công. Hiện thực xã hội và lịch sử Ấn Độ được đưa vào Mahabharata vô cùng hỗn độn, mênh mông như một đại dương với tất cả phong tục, lễ nghi của tất cả các tầng lớp xã hội, tất cả núi sông đồng bằng thành thị đều có mặt ở đây. Với sự chồng chất “hằng hà sa số” nghĩa là số cát ở sông Hằng, sự kiện của đất nước Ấn Độ, một đất nước to lớn và phức tạp như một châu lục hơn là một quốc gia, đề tài sử thi Ấn Độ cũng phức hợp. Nhưng trong sự đại diện đó nổi lên vấn đề chiến có nghĩa là cuộc chiến tranh lớn của dòng họ Bharata. 2. Cốt truyện chiến tranh Mahabharata trước hết là một tập hợp rộng lớn và hỗn tạp các truyền thống cổ xưa. Cốt truyện trung tâm là cốt truyện chiến tranh, một cuộc chiến tranh theo truyền thuyết diễn ra vào thế kỉ 14 TCN nhằm mục đích tranh giành quyền bá chủ vùng Bắc Ấn. Tác phẩm bao quát toàn bộ những sự kiện, những biến cố xảy ra trong cuộc đời của các nhân vật. Mặc dù chỉ chiếm dung lượng tác phẩm. Nhưng câu chuyện chiến tranh vẫn chiếm một vị trí rất quan trọng. Câu chuyện về cuộc chiến tranh đẫm máu huynh đệ tương tàn giữa hai anh em Panđava va Kôrava thuộc cùng một dòng họ. Cuối cùng là sự hủy diệt của dòng họ Kôrava đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử, trong tâm thức của con người. Cuộc chiến tranh kéo dài 18 ngày đêm trên cánh đồng Kôrava giữa hai bộ lạc thủy tổ của cùng một dòng họ người Arian. Nội dung cốt truyện a. Phần mở đầu Giới thiệu nguồn gốc lai lịch và hoàn cảnh cho các nhân vật xuất hiện. Xuất hiện nhiều tình tiết gợi mở cho phần thắt nút cốt truyện. Do tài trí hơn người của năm anh em Panđava mà Đurryodara đã nhiều lần bày mưu tính kế nhưng đều thất bại. b. Thắt nút Xung đột truyện là lòng hận thù- nguyên nhân sâu xa, xung đột khởi điểm dấu hiệu dự báo một cuộc chiến tranh khốc liệt sẽ diễn ra, chính là xuất phát từ trò chơi xúc xắc. c. Phần phát triển Cuộc chiến tranh diễn ra. 3. Tính chất của cuộc chiến tranh Qua sự phản ánh của Mahabharata, tính chất của chiến tranh đã được khúc xạ đi nhiều. Bằng cớ là trong giải pháp tìm kiếm hoà bình của Pandava, 10 họ chỉ cần năm làng nhỏ, thay vì cả một vương quốc, miễn là tránh được xung đột đổ máu với các anh con bác của mình. Chỉ khi Duryodhana nhất định cự tuyệt “Không một tấc đất cắm dùi !”chiến tranh mới trở nên không sao tránh khỏi. Xung đột chủ yếu giữa Pandava và Kaurava là xung đột giữa tinh thần bình đẳng và bác ái, yêu thương, hoà hợp vốn là truyền thống đạo đức của thời kì Công xã nguyên thuỷ, đồng thời là khát vọng của người Ấn với cái phi đạo lí, bất công, hiềm tị và thù hằn là bản chất gắn với cơ sở tu hữu và thể chế Nhà nước của các quốc gia chiếm hữu nô lệ mới hình thành. Ở đây, ta thấy cuộc chiến tranh giữa DHARMA một trong những nghĩa của từ DHARMA là Đạo lí, Lẽ phải và ADHARMA Phi đạo lí. Người Ấn gọi chiến tranh trong Mahabharata là DHARMAKSHETRE chiến tranh bảo vệ DHARMA. Đây là điểm khác với Iliad. Trong Iliad, mỗi anh hùng Achille và Hektor đều đại diện, kết tinh tất cả vẻ đẹp và sức mạnh của dân tộc mình, chiến đấu cho quyền lợi của dân tộc, không ai chính nghĩa và phi nghĩa. Trong khi đó, Mahabharata có sự phân biệt chính nghĩa và phinghĩa, thể hiện khá rõ sự đối lập giữa người với người theo các nguyên tắc đạo đức. Mahabharata không chỉ không thể hiện xung đột DHARMA – ADHARMA thành cuộc giao tranh giữa hai phe Pandava –Korava trên chiến trường mà còn chủ quan hoá xung đột đó trong sự đấu tranh và khắc phục giữa cái cao thượng và cái thấp hèn, ánh sáng và bóng tối trong tâm hồn của mỗi nhân vật. Trong Mahabharata có câu “Không một người đức hạnh nào lại đủ kiên cường để suốt đời giữ vững phẩm hạnh, cũng như không một kẻ tội lỗi nào lại quá xấu xa để sống trọn vẹn cuộc đời trong vũng bùn tội lỗi. Đời là một cuộn chỉ rối tung và trên thế gian này, không có ai không làm cả việc thiện lẫn điều ác. Mỗi người và mọi người đều phải gánh chịu lấy hậu quả những hành động của mình” . Với lối tư duy biện chứng như vậy, sử thi này không phân tuyến nhân vật một cách giản đơn theo cực thiện –ác. Sử thi này chia sẻ sâu sắc chân lí ấy trong khi xây dựng hệ thống nhân vật của nó mà ngay cả những anh hùng mẫu mực nhất cũng không phải luôn luôn chiến thắng trong cuộc chiến tâm hồn giữa DHARMA và ADHARMA của bản thân. Ta lưu ý ở đây hiện tượng hàng loạt anh hùng suy thoái, tha hoá qua tiến trình chiến tranh. Khiến cho cuộc chiến lúc đầu tuân theo những luật lệ cao nhưng càng về cuối các luật lệ đó càng bị vi phạm. Yudhisthira, người anh cả trong năm anh em Pandava, người anh hùng nổi tiếng đạo cao đức trọng đến ngày thứ 14 của cuộc chiến tranh cũng bị dục vọng lôi cuốn để sa xuống con đường của người trần tục. Nếu như trong các sử thi khác, nói chung ta gặp mô hình Tình huống. 11 Hành động của người anh hùng trả lời tình huống đó. Kết quả của hành động thường là làm thay đổi tình huống, dẫn đến một tình huống mới thì trong Mahabharata, nhiều khi ta lại gặp mô hình trên có biến thái chút ít Tình huống. Người anh hùng đắn đo về lẽ nên –không nên, phải –trái, được –mất của hành động. Hành động của người anh hùng. Kết quả của hành động. Người anh hùng tự thẩm định về hành động của mình và kết quả của hành động, ở đây nhiều khi họ ân hận, dằn vặt, họ thấy chiến thắng vật chất lại chỉ là một thất bại tinh thần. Trong khi vẫn xây dựng nhân vật chủ yếu bằng hành động, hành động được xem là hình thức tồn tại cơ bản, là tiêu chí giá trị cơ bản của các anh hùng, thì bên cạnh những “hành động bên ngoài” “là các hành động dứt khoát, trên các thời điểm “nút”, bước ngoặt trong cuộc đời nhân vật, trong quá trình và kết quả của nó sẽ xảy ra sự thay đổi các quan hệ qua lại giữa các nhân vật, thay đổi số phận riêng tư hay địa vị xã hội của chúng” tác phẩm còn chú ý soi rọi những “hành động bên trong” “trong trường hợp của hành động bên trong, các sự kiện xuất hiện trước hết với tư cách là nguyên nhân của các suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật. Trong tiến trình sự kiện, cái bị thay đổi không hẳn là tình trạng của nhân vật mà là trạng thái tâm lí của chúng”. Chú ý soi rọi những “hàng động bên trong”, xung đột bên trong giữa DHARMA và ADHARMA của mỗi nhân vật, sử thi Mahabharata cho thấy các anh hùng trong quan niệm Ấn Độ không bao giờ tách rời các tiêu chuẩn đạo đức, nó bao hàm cái cao thượng, vị tha, yêu chuộng sự hoà bình. Sức mạnh của người anh hùng không chỉ thể hiện trong khả năng hành động mà nhiều khi ở chính sự kiên nhẫn, sức chịu đựng, quyết định lùi bước trước những hành động không xứng đáng. Trong khi giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh Troy được qui tụ quanh sự kiện về cơn giận của Achille là linh hồn của Iliad thì cuộc chiến Kurukshetra lại không phải là toàn bộ mối quan tâm của Mahabharata. Mahabharata không chỉ tập trung vào 18 ngày chiến trận mà bao trùm gần như toàn bộ cuộc đời của các anh hùng từ khi sinh ra cho tới tận kết thúc, khi họ từ bỏ trần gian này sang thế giới bên kia. Trong khi lí tưởng anh hùng là lí tưởng duy nhất đối với Iliad thì lí tưởng anh hùng chỉ là một phương diện trong hệ thống các lí tưởng đạo đức –xã hội của Mahabharata mà thôi. 12 Một mặt thì, trên sân khấu vĩ đại của Mahabharata qua 18 ngày chiến trận, chúng ta thấy biểu dương tầng tầng, lớp lớp những dũng sĩ anh hùng chia xẻ khát vọng sống hào hùng cuộc sống đẹp nhất là cuộc sống với những võ công oanh liệt, cái chết đáng mơ ước nhất là cái chết trên chiến trường như một chiến binh dũng cảm. Chết, đối với các chiến sĩ, không phải là hết, mà là sự hoàn thành bổn phận. DHARMA đồng thời còn có nghĩa là Bổn phận cá nhân. Theo quan niệm Hindu giáo, mỗi người, tùy theo đẳng cấp của mình mà có một chức năng xã hội riêng và anh ta phải phục vụ và duy trì xã hội như một tổng thể bằng cách thực hiện đầy đủ tinh thần bổn phận nhiệm vụ đó của mình. DHARMA của đẳng cấp KSHATRIYA là chiến đấu. Chúng ta sẽ hiểu vì sao máu, thương tổn, hi sinh luôn được miêu tả đẹp đẽ, thơ mộng, thậm chí ngời sáng “Bhima đứng hiên ngang trên chiến địa, máu me đỏ lòm khắp mình mẩy, trông như một ngọn lửa đang bốc cháy rừng rực” “Như một cán cờ lớn sau ngày hội vui, xác Salya nằm sõng soài trên chiến địa” trong khi cảm hứng say máu, hiếu chiến hoàn toàn không phải cảm hứng chủ đạo của sử thi này. Ngược lại, những kẻ chạy trốn khỏi chiến trường, khước từ bổn phận chiến đấu hiện lên trong Mahabharata qua những bức biếm họa với cái hài –phủ định. Ở đây chúng ta nhận thấy một sự tương đồng với Iliad trong giọng điệu anh hùng. kết thúc chiến tranh Kết thúc chiến tranh của Mahabharata lại là một kết thúc khá xa lạ với các sử thi anh hùng khác trên thế giới. Trong bức tranh về chết chóc, buồn đau, thất vọng sau chiến thắng của Pandava hầu như không có cảm hứng ca ngợi mà chỉ hiện ra tính chất rác rưởi, vô nghĩa, đẫm máu của chiến tranh. Thay cho khúc khải hoàn ca chỉ có tiếng khóc của mẹ già, vợ góa, con côi trên khắp thành Hastinapura tang tóc. Yudshithira cúi đầu mà lên ngôi “Quả là đất nước đã về tay chúng con. Nhưng anh em thân thiết của con đã đi cả rồi. Chúng con đã mất các con cái thân yêu. Chiến thắng này con xem như một thất bại lớn” Từ giọng điệu bi thống này định hình nên khái niệm quan trọng của Hindu giáo là AHIMSA bất tổn sinh – không làm tổn hại một sinh vật sống nào nghĩa là phủ nhận hoàn toàn đối với chiến tranh. Theo đó, người anh hùng Ấn Độ đạt đến chiến thắng trên chiến trường hoàn toàn chưa phải đã đến đích, thậm chí, còn là đã xa đích. Nên họ còn phải tiếp tục lên đường. Và sử thi Mahabharata vì thế không thể dừng sau chiến thắng của Pandava như Iliad có thể chấm dứt sau khi kể về chiến công của Achille. Tác phẩm tiếp tục theo dõi các anh hùng của mình ba mươi sáu năm cai trị đất nước vẫn không nguôi ân hận, cuối cùng họ đã từ bỏ vương quốc mà cuộc chiến tranh trước đó họ lấy làm mục đích, hành hương lên cao, cao mãi trên những đỉnh núi Hymalaya. Từ bỏ hoàn toàn cuộc sống gia đình, từ bỏ xã hội, từ bỏ mọi dục vọng, ly viễn cái tinh thần thuần khiết, 13 trong sáng khỏi bản chất vật chất của thế giới. Từ người trẻ nhất trong nhóm, Pandava lần lượt ngã xuống trên đường hành hương. Cuối cùng chỉ còn một mình Yudhisthira tới được cõi trời. Chàng phẫn nộ khi trên thiên đường chàng gặp toàn kẻ thù cũ, còn ở địa ngục lại là các anh em, bè bạn của chàng đang chịu trăm chiều cơ cực. Nhưng đó cũng chỉ ảo ảnh, là thử thách cuối cùng. Yuahisthira phải đi qua cả ba tầng thế giới để tỉnh ngộ rằng trên thiên giới không có chỗ cho lòng hận thù. Anh ta phải vượt trên đối cực của yêu – ghét, thành –bại, hạnh phúc –đau khổ, cũng có nghĩa anh ta phải đi tới giác ngộ bản chất biến đổi, đoản mệnh của thế giới và định mệnh của con người là vượt qua nó. Nghĩa là phải đi tới tuyệt đích MOKSHA tức từ bỏ, cũng tức là giải thoát. Nếu thời Veda, quan điểm chủ yếu của triết học –tôn giáo Ấn Độ là nghiêng về bình diện trần thế, dựa trên cơ sở nghi lễ để thực hiện, duy trì, bảo vệ trật tự xã hội thì đến thời đại sử thi, vấn đề đã có nhiều thay đổi. Đã xuất hiện hai phong trào phê phán quan điểm Veda là đạo Jain và đạo Phật. Cả hai tôn giáo này đều hướng nhiều hơn tới bình diện vĩnh cửu của tồn tại con người, nhấn mạnh tuyệt đích MOKSHA Giải thoát. NIRBANNA Niết bàn chính là cảnh giới an lạc vĩnh cửu, giải thoát khỏi sinh tử, khỏi mọi khổ đau, phiền não. Vậy, khi nói về thời đại đầy xung đột của Mahabharata chúng ta còn phải nhấn mạnh xung đột này nữa xung đột giữa DHARMA và MOKSHA, bổn phận và giải thoát, nhập thế và xuất thế. Với người Aán, con người vừa là một sinh vật xã hội vừa là một sinh vật duy nhất có đời sống tâm linh. Là một sinh vật xã hội, nó phải hoàn thành DHARMA của mình tức bổn phận duy trì, bảo vệ trật tự thế giới trần gian, thế giới vật chất nói chung và xã hội con người nói riêng. Là một sinh vật duy nhất có đời sống tâm linh, nó tìm kiếm MOKSHA tức khát khao giải thoát khỏi thế giới vật chất, giải thoát khỏi vòng sinh từ luân hồi. Xung đột DHARMA- MOKSHA cũng được chủ quan hoá khiến các nhân vật của Mahabharata luôn phải lưỡng phân trước đòi hỏi kép mà vận mệnh con người đã giành cho họ. Hai tình tiết trung tâm thể hiện sự căng thẳng giữa DHARMA với MOKSHA và cố gắng tìm kiếm những giải pháp hoà hợp giữa hai đòi hỏi trái ngược nhau đò trong tinh thần người anh hùng là 1. Sự lưỡng lự của Arjuna trước khi chiến tranh mở màn. 2. Sự bối rối của Yudhisthira về vấn đề cai quản vương quốc hay từ bỏ thế giới sau khi chiến tranh kết thúc. lưỡng lự của Arjuna và thuyết giảng của Krishna Trước khi chiến tranh mở màn, nhìn sang bên kia chiến tuyến thấy các thầy học, các bạn bè, họ hàng thân thích, hình dung chết chóc vô nghĩa của 14 họ, Arjuna đau buồn, tuyệt vọng, từ chối chiến đấu. Chúng ta nhớ Achille trong Iliad cũng từ chối chiến đấu với tinh thần phê phán cuộc chiến tranh, tuy nhiên thái độ phê phán của mỗi anh hùng mang dáng vấp văn hóa khác nhau. Arjuna muốn “rời bỏ xã hội”, cái xã hội đòi chàng phải thực hiện những nhiệm vụ nặng nề, khổ ải. Chàng phủ nhận chiến tranh vì chiến tranh là phản lại thế giới, đi ngược lại ý nghĩa của chính con người. Vào lúc đó, Krishna đã khích lệ tinh thần Arjuna, thuyết giảng cho chàng về hành động. Đối thoại giữa Krishna và Arjuna trở thành “một bài thơ triết lí cỏ vẻ đẹp phi thường”, “một cuốn kinh vắn tắt nhất, thâm thúy, hiền minh nhất của nhân loại” Bhagavad Gita Bài ca của Đấng Chí Tôn – Chí Tôn Ca. Krishna hiện lên trong tác phẩm với tư cách nhân –thần, vừa là ông hoàng chiến sĩ vừa là hoá thân của thần Vishnu thần Bảo vệ tham gia chiến tranh trong vai trò người đánh xe của Arjuna. Cỗ xe và người đánh xe là hình tượng cặp đôi rất quen thuộc trong các kinh điển Hindu giáo cũng như Phật giáo, cho thấy quan hệ của Krishna với Arjuna tượng trưng chủ yếu là một hướng đạo tâm linh. Krishna và Arjuna tượng trưng cho Đức Thế Tôn và Arjuna, Linh Hồn Vô THượng và Linh Hồn Nhân Thế. Khi Linh Hồn Vô Thượng sáng lên trong Linh Hồn Nhân Thế, khi Con Người hoà nhập trong Đức Thế Tôn, Arjuna giác ngô được ý nghĩa đích thực của cá nhân và vai trò xã hội, quay lại hành động. Giải pháp của Bhagavad Gita nói vắn tắt là hành động vô cầu. Chìa khóa đối với sự giải thoát khỏi nghiệp chướng không phải sự khước từ hành động mà là sự thực hiện hành động với một tri kiến thích đáng. Bởi vì chính dục vọng làm dấy lên hành động mới gây ra sự trói buộc của nghiệp, giải thoát khỏi nghiệp vì vậy, liên quan đến , trước hết là sự từ bỏ, sự kiểm soát những dục vọng ích kỉ, cá nhân. Arjuna phải chiến đấu như thể chàng là vũ khí trong tay Đấng Bảo Vệ Vũ trụ, xuất hiện mỗi lần thế giới nguy nan, để tiêu diệt cái ác, bảo vệ thế giới. Bằng cách sống đời mình như một tặng vật cho Đấng Chí Tôn như thế, chàng được hành động vô cầu và vậy là đồng thời vừa thực hiện được DHARMA vừa thực hiện được MOKSHA. b. Sự bối rối của Yudhisthira và cuộc từ bỏ thế giới được hoãn lại. Hậu quả đau buồn của cuộc chiến tranh khiến Yudhisthira, giống như Arjuna trước đây, đau buồn, tuyệt vọng, muốn từ bỏ thế giới để tìm kiếm sự giải thoát trong rừng sâu. Sau đó là cuộc tranh luận giữa Yudhisthira với bốn em trai của chàng và người vợ chung Draupadi của họ. Thực chất là sự cọ xát giữa hai quan điểm Bàlamôn và Kshatriya về xung đột giữa DHARMA và MOKSHA. Cuối cùng, Yudhisthira bị thuyết phục đã từ bỏ nỗi buồn đau thất vọng và cai quản vương quốc. Một trong các cố vấn của chàng nêu lên rằng từ bỏ 15 thế giới trước khi hoàn thành trách nhiệm đối với xã hội, trước đã già là không tự nhiên và không hợp truyền thống. Yudhisthira như vậy không bị thuyết phục bởi tính hơn hẳn của thế giới trần gian mà chỉ bị thuyết phục bởi sự cần thiết của nó. Từ bỏ xã hội đối với chàng vẫn là con đường cuối cùng dẫn tới giải thoát và chàng bị thuyết phục để làm vua, bảo vệ trật tự thế giới chỉ vì con đường ấy sẽ trì hoãn lại đến một thời gian thích hợp hơn mà thôi. Kết thúc tác phẩm, khi Yudhisthira đã già và cai quản đất nước nhiều năm, chàng từ bỏ thế giới đúng như mong muốn của chàng sau khi kết thúc chiến tranh. Giải pháp, với Yudhisthira, để hoà giải xung đột DHARMA _MOKSHA như vậy là một giải pháp rất phổ biến của truyền thống Hindu. Nó được trình bày trong mọi sách Luật Manu của Hindu giáo trong thời gian gần đồng thời với thời gian của Mahabharata. Cuộc đời lí tưởng được miêu tả như có bốn giai đoạn ASHRAMAS 1 BRAHMACHARYA, 2 GRIHASTHA, 3 VANAPRASTHA, 4 SANYASA. Trong hành trình cuộc sống từ sinh đến tử, hai giai đoạn đầu, con người phải tu dưỡng học tập, làm chủ gia đình, tìm kiếm của cải và hưởng thụ hạnh phúc vợ chồng, sinh con đẻ cái, phục vụ xã hội bằng cách thực hiện DHARMA của mình. Hai giai đoạn cuối, giai đoạn tu luyện khổ hạnh trong rừng và giai đoạn gạt bỏ hoàn toàn mọi dục vọng, từ bỏ thế giới, anh ta phải tiến tới nhận thức và thực hiện định mệnh vĩnh cửu của mình là giải thoát MOKSHA. 5. Những anh hùng nửa trần tục-nửa thần linh của Mahabharata Chúng ta nói đến những anh hùng nửa trần tục-nửa thần linh của Mahabharata không chỉ vì họ là con của một người cha thần thánh và một bà mẹ trần tục. Achille trong Iliad cũng là con của một người mẹ thần linh và một người cha trần tục. Mà chủ yếu vì Mahabharata đã thể hiện họ vừa cao thượng vừa thấp hèn, luôn luôn trong cuộc đấu tranh bản thân giữa DHARMA và ADHARMA –Đạo lí và Phi đạo lí, vừa chịu lực hút mãnh liệt của trái đất trần tục này vừa hướng tới thiên giới tâm linh vời vợi cao trên kia, luôn luôn giữa hai đòi hỏi trái ngược DHARMA và MOKSHA-Bổn phận và giải thoát, Nhập thế và Xuất thế-Có cảm giác là so với Iliad, các anh hùng của Mahabharata “văn minh” hơn hẳn. Dù rằng,v iệc các anh hùng đôi khi đắm chìm trong suy tư, chiêm nghiệm hơn là thể hiện nhiệt tình hành động cũng bộc lộ bản tính “yếu đuối” không dễ dàng biện hộ của họ. Mahabharata đã cống hiến cho gia tài chung các anh hùng ca cổ điển của thế giới kiểu mẫu “anh hùng suy tư” “anh hùng –đạo sĩ” rấtẤnĐộ, rất phương Đông. Để lí giải vấn đề, chúng ta cần chú ý rằng trong quá trình sáng tác –diễn xướng-lưu truyền-sửa chữa, bổ sung để hình thành nên văn bản tác phẩm cuối cùng đến với chúng ta hiện nay, bên cạnh những điểm tương đồng, 16 Mahabharata có khác biệt so với Iliad. Điểm tương đồng nằm ở chỗ dưới cái tên một tác giả cá nhân mang đầy màu sắc huyền thoại Vyasa hoặc Homer, cả Mahabharata lẫn Iliad, thực ra, đều là công trình của một tập thể đông đảo các tác giả vô danh qua nhiều thế hệ. Còn khác biệt quan trọng là câu chuyện chiến tranh của các anh hùng bộ lạc, các anh hùng dân tộc làm cốt lõi đầu tiên cho sử thi Mahabharata cũng như Iliad đã được các thế hệ thi sĩ, văn sĩ, nói tóm lại là nghệ sĩ, bồi đắp, trau chuốt, thì trong trường hợp của Mahabharata lại được các thế hệ tu sĩ Brahmana là đẳng cấp có độc quyền trong xã hội Ấn Độ về lĩnh vực tư tưởng, tri thức, sách vở nắm lấy, tái tạo và bổ sung. Các tu sĩ Brahmana đã dựa vào câu chuyện anh hùng, sắp xếp lại, sửa chữa lại, đem nó gắn liền với cảm quan tôn giáo, đạo đức. Cái hùng theo quan điểm Võ sĩ quí tộc Kshatriya đã được uốn nắn trong tương tác với cái hùng theo quan điểm Tăng lữ Brahmana. Mahabharata trở nên một sự hoà trộn giữa hai truyền thống lớn trong văn học Aán 1 truyền thống Sruti tạm dịch là truyền thống Thần khải, bao gồm các tác phẩm văn chương –tôn giáo, sản phẩm tinh thần của giới tu sĩ, văn chương hướng tới con người trong quan hệ thần thánh, con người cùng khát vọng tâm linh của mình 2 truyền thống SMRITI tạm dịch là truyền thống Nhân văn hay truyền thống Thế tục, bao gồm các tác phẩm văn chương –sản phẩm tinh thần của Kshatriya và các đẳng cấp khác thuộc quần chúng nhân dân, văn chương hướng tới con người trong quan hệ với cuộc sống trần gian, con người mang những bổn phận xã hội. Kết quả là từ câu chuyện cốt lõi có đề tài điển hình sử thi trong văn bản ban đầu chỉ có chừng 884 sloka và thuộc thể loại DJAJA Truyền thoại về chiến thắng của các Kshatriya Mahabharata đã dần dần phát triển đầy đặn hơn đến văn bản sloka thuộc thể loại TIHASA và cuối cùng, khi đến với chúng ta ngày nay, với sloka nó không còn chỉ là một sử thi anh hùng mà đúng hơn là một sử thi anh hùng –thuyết giáo, một bộ bách khoa toàn thư. NgườiẤncó câu cách ngôn nổi tiếng “Cái gì không có trong Bharata cũng tức là sử thi Mahabharata thì cũng không tìm thấy ở đâu trên xứ sở Bharata” tên gọi của đất nướcẤnĐộ. Từ đây, chúng ta có thể hiểu được tính chất đặc biệt rộng lớn trong tầm khái quát hiện thực, khái quát lí tưởng sống của Mahabharata. Sử thi Ấn Độ, cũng như văn học Ấn Độ nói chung, mang đậm màu sắc tôn giáo và triết học. Một mặt ràng buộc chặt chẽ với tất cả những khổ lụy, biến ảo vô thường, bất tuyệt của thế giới trần gian này, mặt khác, tư duy người Ấn luôn vươn tới cái chân lí, cái vĩnh hằng, cái duy nhất. Sử thi Mahabharata là một truyện lớn và kì diệu theo ý nghĩa đó. “Những đau buồn của cuộc sống nhân gian được mô tả với mộtvẻ đẹp cao cả và nó diễn ra trên 17 một toàn cảnh lớn. Đằng sau câu chuyện về những lầm lạc và đau khổ, nhà thơ chúng ta có một ảo tưởng về cõi Thực và cõi Thiên tiên”. II. Tôn giáo 1. Vài nét về tôn giáo Ấn Độ Ấn Độ là mảnh đất màu mở cho tôn giáo phát triển. Đạo Bàlamon ra đời đầu tiên , do tăng lữ Bàlamon thành lập và tuyên truyền học thuyết vạn vật bất di, bất dịch do đó xã hội có giai cấp có giàu nghèo, vua tôi chủ tôi là chuyện đúng lẽ phải. Nỗi đau trên đời là tạm thời không đáng quan tâm và cuộc đời là hư ảo, chỉ có đấng Brahama mới có thực. Đạo Balamon tuyên truyền thuyết luân hồi, người chết sẻ biến ra kiếp khác. Buộc con người phải sống đúng đạo Đharma, không được kêu ca, ghen ghét kẻ giàu sang. Đó là thứ giáo lí duy trì quyền lực của tầng lớp thống trị. Sau này đạo Balamon trải qua nhiều cải cách thành đạo Hinđu tức là Ấn Độ giáo ngày nay. Đạo GienJain do Mahavira sáng lập, duy trì một số bất công trong xã hội làm cho một số đẳng cấp vương quốc, quý tộc bất mãn, tìm cách chống đối. Nhiều người tự ý rời bỏ cuộc sông giàu sang đi tìm nơi ẩn dật trong rừng sâu. Đạo Gen phủ nhận quyền uy của kinh Veeda, chống chế độ đẳng cấp và đâọ Balamon, chủ trương không tế lễ, coi vạn vật vừa có vật chất vừa có linh hồn, không nói dối không sát sinh…Ngày nay ở Ấn Độ người theo đạo Gen chỉ còn khoảng 0,5% dân số. Đạo Phật Sau nhiều năm đi tìm chân lí Xitđacta đã ngộ đạo dưới cây bồ đề vùng Booddigana, sau đó đạo Phật được truyền khắp nơi. Giáo lí Phật cho rằng cuộc đời là bể khổ. Tội ác của xã hội là dục vọng của con người. Dục vọng thì vô hạn, phải tiêu diệt dục vọng để kiếp sau đến được cõi Niết Bàn. Với quan niệm đó, đạo Phật chủ trương bình đẳng chúng sinh, phản đối chế độ đẳng cấp mà đạo Balamôn duy trì. Đạo Hinđu Ấn Độ giáo trước sự thắng thế của đạo Phật, đạo Balamôn phải cải cách, biến thể thành đạo Hinđu, hấp thu một phần giáo lí và đạo đức của Phật, tin vào luật nhân quả và luân hồi. Đạo Hinđu cho rằng con người và vũ trụ trải qua 3 giai đoạn sinh – trưởng- diệt. Nhất thể hóa ba vị thần tượng Brahama thần Sáng Tạo- Vism thần Bảo Vệ- Siva thần Hủy Diệt. Ngoài bốn tôn giáo chính kể trên, ở Ấn Độ còn một số tôn giáo khác sản sinh từ các địa phương hoặc các tín ngưỡng khác như đạo Xích Sick, đạo Yoga… 2. Tôn giáo trong sử thi Mahabrahata Tôn giáo trong sử thi Mahabharata là Hindu giáo. a. Con người như là cái nghiệp 18 Tôn giáo coi cuộc sống con người như là cái nghiệp Karma, chỉ có cái chết mới là vĩnh cửu, linh hồn mới là chính chứ không phải thể xác, cái kiếp sau mới là vô tận chứ kiếp này chỉ là phù du. Yudhisthira khi còn sống làm vua mà chẳng cảm thấy vui sướng, chỉ khi hình hài đã mất được lên cõi cực lạc mới tìm thấy yên vui thực sự. Bhisma “Thân thể Bhisma không đụng tới đất vì những mũi tên đang cắm khắp mình ông. Thân thể ông càng sáng hơn bao giờ hết khi ông nằm như vậy, như trên chiếc giường danh dự. Quân đội hai bên thôi không còn giao tranh nữa, tất cả các chiến binh chạy tới và đứng quanh bậc anh hùng vĩ đại nằm trên chiếc giường bằng các mũi tên. Các bậc vua chúa trên cõi trần đứng cúi đầu quanh ông chẳng khác các thần chầu, quanh đấng Bàlamôn”, ông đã “lấy máu mình khiến cho bãi chiến trường thành nơi vinh hiển”. Ngay cả Duryodhan, người mà bao nhiêu sinh linh đã vì y bỏ mạng thì khi y chết “các chư thần tung hoa xuống người dũng sĩ đang hấp hối, người nhà trời tấu nhạc và bầu trời rực sáng”, “bây giờ ta chết, cái chết mà các dũng sĩ cho là cái tột đỉnh trong cuộc sống của người Kshatriya. Ta về trời, còn ngươi nói với Krisna và bạn bè của ngươi sẽ sống trong cõi đòi này và chịu đựng đau khổ, sầu não…thử hỏi có ai phúc hơn ai?”. b. Số phận con người Sử thi Ấn Độ kế thừa một kho tàng thần thoại phong phú của Rig Veda nhưng là thần thoại của giai đoạn sau, đã được biên soạn lại bởi các nhà thần học. Thần thoại đã trở thành một yếu tố cấu thành của hệ tư tưởng tôn giáo nên những yếu tố thế tục hồn nhiên các chất người phàm tục và cao thượng, anh hùng và hèn nhát vốn gần gũi với cuộc sống trong thần thoại bị thanh lọc đi, bị đưa ra ngoài biên chế của tôn giáo. Tôn giáo chỉ giữ lại sự sợ hãi, sung bái những kiếp nhược và cam chịu của con người trước thần thánh. Tôn giáo can thiệp thô bạo đến số phận con người. Tất cả đểu do thần linh định đoạt “định mệnh mạnh hơn cố gắng của con người”. Các thần có mặt trong những hoạt động của con người nhiều hơn hay trong một trận đánh, một tình huống hay trong suốt cả cuộc chiến tranh những anh hùng Padava đều có thần giúp đỡ. Krishna, hiện thân thứ 8 của thần Vishnu thần bảo vệ luôn theo sát Arjuna và là người đánh xe cho Arjuna trong chiến trận Kurukshetra. Chính người Ấn Độ lại là hóa thân của các vị thần hay là con cái của các vị thần. Như vậy thế giới thần linh trong sử thi Ấn Độ đã chi phối sâu sắc đến đời sống con người. c. Chịu đựng là trắc ẩn Sự chịu đựng là trắc ẩn, là chân lý, là hi sinh, là danh tiếng của tôn giáo. Toàn vũ trụ dựa trên sự chịu đựng. Yudhishthira chấp nhận lưu đày. Arjuna khi chiến thắng đã cầm chắc trong tay vẫn thiết tha kêu gọi giảng hòa. Yudhishathira đau buồn và ăn năn hối 19 hận vì việc đã giết chết những người anh như bà con đến mức quyết định rời bỏ cuộc đời trần tục, đi vào rừng sám hối tội lỗi. Tôn giáo Ấn Độ đều hướng vào sự vô vị nhẫn nhục. Các thuyết luân hồi vô thường vô ngã cũng như nhân quả nhân duyên của đạo phật đều cho rằng cuộc đời là vô ngã, vô sơ, nhân sinh là vô thường. Mọi cái kể cả kiếp người đều trôi qua trong nháy mắt, mọi công danh phú quý đều nhanh chóng tiêu tan chỉ có nghiệp Karna là vĩnh viễn tồn tại, nghiệp ấy bền là do quá trình tu nhân tích đức, tránh ác phục thiện của con người. Con người nhẫn nhục là mẫu người lý tưởng mà sử thi Ấn Độ hướng đến. Như vậy, đối với người Ấn Độ đức nhẫn là gốc rễ là ngọn nguồn để có một cuộc sống tốt đẹp. d. Đạo lý Dharma bổn phận * Khát vọng hòa bình, giải thoát và lý tưởng công bằng bác ái. Chiến thắng của anh hùng Panđava được xem là sự chiến thắng của đạo đức và công lý Dharma đề ra. Chiến trường Kurukshetra vừa là thánh địa biểu dương sức mạnh hùng cường của những chiến binh lẫm liệt, vừa là một sự kiện vĩ đại của bi tráng và hào hùng là nơi đạo đức bị tha hóa ánh sáng và bóng tối đang đấu tranh quyết liệt. Yudhisthira khóc than đến xé lòng tác động sâu sắc vào tâm linh người đọc. Trong cuộc hành hương lên cõi trời người anh hùng dần nguôi quên khổ đau oán hận, trút bỏ mọi ràng buộc trần thế, đạt đến độ siêu thoát thanh tịnh. Nhưng khi cõi tục lụy đã lùi xa, người anh hùng tưởng đã rũ sạch bụi trần mà vẫn chưa mở được cánh cửa trời. Thần Dharma vẫn còn thử thách con trai mình. Và nơi chốn thanh cao yên tĩnh ấy vẫn là một Yudhishathira đạo cao đức trọng. “Tôi không muốn ở trên cõi đời, bởi đối với tôi ở đây mà xa các anh hùng thì có gì là hay là tốt; chỗ nào họ đang ở thì chỗ ẫy là cõi cực lạc của tôi chứ không phải ở đây”. Thế là Yudhishathira đã đi đến tận cùng những khổ đau của đời người, đã hiểu nguồn cơn chu trình sinh tử hiểu bản chất cuộc sống và hiểu con đường giải thoát mọi vòng sinh tử là hòa hợp khoan dung là yêu thương tha thứ. Đó là lẽ Dharma tinh thần Ấn Độ, là triết lý vĩ đại ngàn đời vẫn còn lung linh vẫn còn vẫy gọi con người chiến thắng bản năng, khắc phục những cám dỗ phàm trần vượt tới tuyệt đích tâm linh. * Hành động vô cầu Hành động vô cầu là hành động không có mục đích và lý tưởng vì mục đích và lý tưởng nằm trong Dharma. Đó là một hành động vị kỉ, không vì lợi ích cá nhân và những kết quả vật chất tầm thường. Hành động quên nỗi hiểm nguy của bản thân để tiêu diệt cái ác cứu đời của Bhisma mang lại cho nhân vật vẻ đẹp cao cả. Hành động của Bhisma mang 20
tóm tắt sử thi mahabharata